vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "YCCNTTLH"
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH NH PH TH D M T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11-01-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DA

NƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TH NH PH TH D M T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Minh Lý

Bà Nguyễn Thị Hồng ThA

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 264/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 448/2021/QĐHPT- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim A, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu a, phường a1, thành phố a2, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Phan Tấn T, sinh năm 1994; Địa chỉ: khu a, phường a1, thành phố a2, tỉnh Bình Dương.

N I D NG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/6/2021, nguyên đơn bà Võ Thị Kim A trình bày:

Bà A và ông T là vợ chồng, tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Định Hòa vào năm 2015. Sau khi kết hôn nhận thấy phát sinh nhiều mâu thuẫn, rạn nứt vợ chồng đã không thể hàn gắn. Trong cuộc sống giữa vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm. Nguyên nhân do ông T không có trách nhiệm với gia đình, hai vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau. Hiện tại ông T đã bỏ nhà đi từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, hôn nhân không thể kéo dài. Vì vậy, bà A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T

- Về quan hệ hôn nhân: Ly hôn với ông Phan Tấn T

- Về con chung: Có hai con chung là cháu Phan Huỳnh Phúc Kh, sinh năm 25/11/2016, cháu Phan Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 11/4/2012 sau khi ly hôn bà A sẽ nuôi 2 con chung.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Tấn T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ, nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà A. Quá trình giải quyết, Tòa án đã ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đã niêm yết hợp lệ cho bị đơn tại nơi cư trú, địa phương và tại trụ sở Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông T đều vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Võ Thị Kim A có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà A và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Định Hòa, thành phố Thủ Dầu Một năm 2015. Nay bà A có đơn xin ly hôn với ông T và có yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung. Như vậy, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự .

[1.2] Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Bị đơn ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T không đến Tòa án để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng không thông báo lý do vắng mặt cho Tòa án biết. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, nguyên đơn bà Võ Thị Kim A có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Các vấn đề có trA chấp: Bà A và ông T là vợ chồng, sống chung có đăng ký kết hôn số 71 ngày 24/8/2015 tại UBND phường Định Hòa là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà A cho rằng sau khi kết hôn, ông T không có trách nhiệm với gia đình, ông T thường xuyên cải vã với bà A từ đó dẫn đến sự mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Bà A và ông T hiện không còn chung sống với nhau. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng ông T, bà A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông T là có căn cứ, đúng pháp luật theo quy định tại theo Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Ông T, bà A có cháu Phan Huỳnh Phúc Kh, sinh năm 25/11/2016, cháu Phan Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 11/4/2012, sau khi ly hôn bà A yêu cầu sẽ nuôi 2 con chung, cháu A1 và Kh hiện nay đang ở với mẹ và cháu An có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ ở với mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử giao cháu Phan Huỳnh Phúc Khang, sinh năm 25/11/2016, cháu Phan Huỳnh Phúc A1, sinh ngày 11/4/2012 cho mẹ là bà Võ Thị Kim A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên Tòa chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án: Bà Võ Thị Kim A phải nộp theo quy định của pháp luật.

V các l trên,

Q YẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kim A về việc " ly hôn, trA chấp nuôi con" đối với bị đơn ông Phan Tấn T

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim A được ly hôn với ông Phan Tấn T

Về con chung: Bà Võ Thị Kim A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Phan Huỳnh Phúc Khang, sinh năm 25/11/2016, cháu Phan Huỳnh Phúc An, sinh ngày 11/4/2012

Không ai được quyền cản trở ông Phan Tấn T trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau này khi cần thiết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét do đương sự không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình: Bà Võ Thị Kim A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0056494 ngày 29/7/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ