vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Văn Th.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 01 năm 2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dưỡng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Văn Sinh.

2. Bà Lương Thị Anh Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Trong các ngày 27 tháng 12 năm 2021và ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/20221/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đ.

2. Bị đơn: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987, Địa chỉ: Ấp Gi, xã T, huyện T, tỉnh Đ.

Nguyên đơn Nguyễn Thị H vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt), bị đơn Nguyễn Văn Th vắng mặt (do đã bị Tòa án tuyên bố mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28-5-2021 và bản khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày: Vào năm 2010, chị H, anh Th cưới nhau và vợ chồng chị H và anh Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 10-8-2010. Trong thời gian chung sống vợ chồng không có con chung. Lúc đầu vợ chồng chị H và anh Th sống có hạnh phúc. Nhưng đến năm 2014 thì vợ chồng chị H và anh Th phát sinh mâu thuẩn, anh Th bỏ nhà đi và chị H không biết anh Th đi đâu, nên chị H và gia đình đã báo công an và nhiều lần đi tìm kiếm nhưng vẫn không biết tung tích của anh Th. Cho nên năm 2019, chị H đã yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Nguyễn Văn Th nhưng anh Th vẫn không trở về. Đến năm 2020, chị H tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với anh Nguyễn Văn Th và được Tòa án giải quyết bằng quyết định số: 05/2021/QĐST-VDS ngày 19-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về việc tuyên bố Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987 mất tích. Nay chị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng giải quyết những vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Văn Th đã bị Tòa án tuyên bố mất tích bằng quyết định số: 05/2021/QĐST-VDS ngày 19-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng. Ngày 07-6-2021 Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng thụ lý vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H với anh Ngyễn Văn Thêm và đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nhưng anh Nguyễn Văn Th vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ cũng như bản khai của anh Nguyễn Văn Th. Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ nguyên đơn Nguyễn Thị H cung cấp để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng dân sự:

Đây là vụ án ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn (chị H) vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Do anh Nguyễn Văn Th bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không tiến hành hòa giải được mà chỉ mởi phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn Nguyễn Văn Th theo quy định tại Điều 207; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Th có tổ chức đám cưới, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hộ Cơ năm 2010 là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định của pháp luật.

Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh Th xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2014 anh Th bỏ nhà đi, chị H không biết anh Th đi đâu, nên chị H đã yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với anh Th và được Tòa án giải quyết bằng quyết định số: 05/2021/QĐST-VDS ngày 19-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về việc tuyên bố Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987 mất tích. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Nguyễn Văn Th đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng tuyên bố mất tích bằng quyết định số: 05/2021/QĐST-VDS ngày 19-4-2021 có nội dung “Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987 mất tích. Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987, có hộ khẩu thường trú tại: Ấp Gò Bói, xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp mất tích”. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Văn Th là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Vậy, chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Nguyễn Văn Th không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 51và khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số: BI/2019/0009421 ngày 07-6-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn Th không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn Nguyễn Thị H và bị đơn Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ