vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Đỗ Văn M. 2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Như Y, sinh ngày 15/11/2005 và Đỗ Duy M, sinh ngày 29/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Đỗ Văn M không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc Huỳnh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ - ST.
Ngày: 04 - 01 - 2022.
"V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hồng Điệp.

Ông Nguyễn Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiệp Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Điều - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2021/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2021 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp X, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1977; địa chỉ HKTT: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; chổ ở hiện nay: Ấp X, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 23/9/2021 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 145, quyển số 02/2008, ngày 14/8/2008. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 11 năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, ông M thường xuyên đi ăn nhậu không lo cho gia đình và bà H nhiều lần khuyên can nhưng ông M vẫn không thay đổi mà còn bạo hành đánh đập bà H phải nhập viện, từ đó cuộc sống không còn hạnh phúc và sống ly thân từ tháng 06 năm 2021 cho đến nay, sau khi sống ly thân thì bà H và ông M có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian chung sống, bà H và ông M có 02 người con chung là Đỗ Thị Như Y, sinh ngày 15/11/2005 và Đỗ Duy M, sinh ngày 29/11/2019 hiện nay sống chung với bà H; về tài sản chung: Tự thỏa thuận; về nợ chung không có.

Bà Nguyễn Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Văn M; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên và không yêu cầu ông M cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có nên bà H không yêu cầu gì.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/11/2021 và biên bản hòa giải ngày 15/11/2021 bị đơn ông Đỗ Văn M trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà H về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H thì ông không thống nhất ly hôn vì ông còn thương vợ thương con, ông muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Về con chung: Ông đồng ý giao cháu Đỗ Thị Như Y, sinh ngày 15/11/2005 và Đỗ Duy M, sinh ngày 29/11/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Có tiền xây nhà trên đất khoảng 300.000.000 đồng sẽ để lại cho con nên sẽ tự thỏa thuận với bà H không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Đỗ Văn M chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H; giao cháu Đỗ Thị Như Y, sinh ngày 15/11/2005 và Đỗ Duy M, sinh ngày 29/11/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông M không cấp dưỡng cho con chung; về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét, về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 23/9/2021, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Bà và ông Đỗ Văn M kết hôn vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 14/08/2008. Bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Đỗ Văn M và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Thị Như Y và Đỗ Duy M, về tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không yêu cầu giải quyết. Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong vụ án, bị đơn ông Đỗ Văn M hiện đang cư trú tại ấp X, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Đỗ Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông M.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 145, quyển số 02/2008, ngày 14/8/2008 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông M là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau thời gian chung sống hạnh phúc, đến tháng 11 năm 2020, ông bà phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, ông M thường xuyên đi ăn nhậu không lo cho gia đình và bà H nhiều lần khuyên can nhưng ông M vẫn không thay đổi mà còn bạo hành đánh đập bà H phải nhập viện, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, bất hòa. Ông bà vẫn không hàn gắn được tình cảm nên đã sống ly thân với nhau tháng 06 năm 2021 cho đến nay. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/11/2021, biên bản hòa giải ngày 15/11/2021, ông Đỗ Văn M thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn như bà H trình bày. Trong thời gian chung sống, ông có lời nói và hành động làm tổn thương bà H. Ông nhận thấy mình sai nhưng vì quá thương vợ con nên mới có hành động và lời lẽ làm xúc phạm bà H. Tuy nhiên đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H thì ông M không đồng ý vì ông còn thương vợ, thương con và muốn được hàn gắn tình cảm. Qua lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà H và ông M trong thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà H đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông M vào tháng 5 năm 2021 nhưng Tòa án đã động viên vợ chồng về hàn gắn tình cảm nhưng không hàn gắn được. Mặt khác sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng bà H và ông M đoàn tụ nhưng bà H vẫn kiên quyết ly hôn với ông Mến. Như vậy tình cảm vợ chồng của ông bà đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông M.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M xác định trong thời gian chung sống, bà H và ông M có 02 người con chung là Đỗ Thị Như Y, sinh ngày 15/11/2005 và Đỗ Duy M, sinh ngày 29/11/2019, hiện đang sống chung với bà H; bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, ông M cũng đồng ý theo yêu cầu của bà H và quá trình giải quyết vụ án khi ghi nhận ý kiến thì cháu Ý có nguyện vọng sống chung với bà H. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Ý và cháu Mạnh, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải giao cháu Ý và cháu Mạnh cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngoài ra, căn cứ vào Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông M mà không ai được cản trở.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ngọc H không yêu cầu cấp dưỡng cho con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M xác định tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đỗ Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Đỗ Văn M.

1.2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Như Y, sinh ngày 15/11/2005 và Đỗ Duy M, sinh ngày 29/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; ông Đỗ Văn M không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Đỗ Văn M mà không ai được cản trở.

1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M xác định tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

1.4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Đỗ Văn M xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003210 ngày 26/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đỗ Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ