vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lương Hồng Tuấn H về việc yêu cầu ly hôn với bà Văn Thị Kim P.

Ông Lương Hồng Tuấn H được ly hôn với bà Văn Thị Kim P. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lương Hồng Tuấn H về việc yêu cầu ly hôn với bà Văn Thị Kim P.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/01/2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh;

2/ Bà Trần Thị Kim Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 13 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 379/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2021, về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lương Hồng Tuấn H – Sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Bà Văn Thị Kim P – Sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Đương sự có mặt: Ông Lương Hồng Tuấn H, bà Văn Thị Kim P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/11/2021, bản khai của nguyên đơn ông Lương Hồng Tuấn H khai:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và Văn Thị Kim P tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/02/2012. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu trong thời gian khoảng 05 năm. Sau khi cưới vợ chồng ông sống tại thôn 1, xã Hàm Liêm. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, con riêng của bà Phượng thường xuyên trộm cắp ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống hàng ngày của ông, trong cuộc sống bà Phượng tính toán chi ly tiền bạc trong sinh hoạt gia đình. Vợ chồng ông không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 09/2021 cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của ông là yêu cầu xin được ly hôn với bà Văn Thị Kim P.

Bị đơn bà Văn Thị Kim P khai:

Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của ông Lương Hồng Tuấn H thì bà xác định là đúng. Vợ chồng tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/02/2012. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu trong thời gian khoảng 05 năm. Sau khi cưới vợ chồng bà sống thôn 1, xã Hàm Liêm. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, khi có mâu thuẫn xảy ra ông Hoàng không nói để vợ chồng bàn bạc, con riêng của bà nó hư, vợ chồng bà cũng tìm cách dạy dỗ nhưng không được. Vợ chồng bà không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 09/2021 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên bà không đồng ý yêu cầu ly hôn của ông H.

Về con chung: Ông Lương Hồng Tuấn H, bà Văn Thị Kim P thống nhất có con chung tên Lương Dĩ V – Sinh ngày 15/11/2018. Hiện nay con tên Lương Dĩ Văn đang ở với bà Văn Thị Kim P.

Ông Lương Hồng Tuấn Hoàng đồng ý để bà Văn Thị Kim P được quyền nuôi dưỡng con chung tên Lương Dĩ V – Sinh ngày 15/11/2018 và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000đồng.

Bà Văn Thị Kim P trình bày: Trường hợp Tòa cho vợ chồng bà ly hôn thì khi ly hôn bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lương Dĩ V – Sinh ngày 15/11/2018 và đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con mà ông Lương Hồng Tuấn H đã đưa ra.

Về tài sản và nợ: Ông Lương Hồng Tuấn H, bà Văn Thị Kim P không yêu cầu Tòa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 1, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Hồng Tuấn H và Văn Thị Kim P tổ chức lễ cưới vào năm 2015, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/02/2012. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Lương Hồng Tuấn H và Văn Thị Kim P sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo ông H nguyên nhân mâu thuẫn là do con riêng của bà P thường xuyên trộm cắp, quậy phá ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống hàng ngày của ông, trong cuộc sống bà Phượng tính toán chi ly tiền bạc trong sinh hoạt gia đình.

Bà Văn Thị Kim P cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do khi có mâu thuẫn xảy ra giữa vợ chồng bà thì ông Hoàng không nói để vợ chồng bàn bạc, đúng là con riêng của bà hư hỏng quậy phá, trộm cắp tài sản, vợ chồng bà cũng tìm cách dạy dỗ nhưng không được. Bà cũng không có cách nào để dạy con, làm ảnh hưởng đến tình cảm giữa bà và ông Hoàng.

Vợ chồng ông H, bà P không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 09/2021 cho đến nay.

Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian để ông Hoàng, bà Phượng có thời gian đoàn tụ nhưng hai bên không còn quan tâm, không có động thái nhằm hàn gắn tình cảm với nhau nữa, khả năng hàn gắn để đoàn tụ là không thể. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với bà P.

Từ các mâu thuẫn do các đương sự trình bày trên Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa ông Lương Hồng Tuấn H và bà Văn Thị Kim P thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được.

Do vậy, yêu cầu được ly hôn của ông Lương Hồng Tuấn H là có căn cứ nên chấp nhận.

- Về con chung: Ông Lương Hồng Tuấn H, bà Văn Thị Kim P thống nhất có con chung tên Lương Dĩ V – Sinh ngày 15/11/2018. Hiện nay con tên Lương Dĩ V đang ở với bà Văn Thị Kim P.

Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, ông Lương Hồng Tuấn H đồng ý để bà Văn Thị Kim P được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Lương Dĩ V, ông Hoàng đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000đồng.

Xét yêu cầu nuôi con của ông Lương Hồng Tuấn H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Con tên Lương Dĩ V ở với bà P từ khi sinh ra cho đến nay đều do bà Phượng chăm sóc, giáo dục, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Văn Thị Kim P đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lương Dĩ V do con còn nhỏ cần sự chăm sóc của bà và đồng ý mức cấp dưỡng mà ông Lương Hồng Tuấn H đưa ra. Vì vậy, giao con chung tên Lương Dĩ V cho bà P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Lương Hồng Tuấn H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Bà Văn Thị Kim P không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 146, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lương Hồng Tuấn H về việc yêu cầu ly hôn với bà Văn Thị Kim P.

Ông Lương Hồng Tuấn H được ly hôn với bà Văn Thị Kim P.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Lương Dĩ V – Sinh ngày 15/11/2018 cho bà Văn Thị Kim P trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Lương Hồng Tuấn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Lương Dĩ V – Sinh ngày 15/11/2018 mỗi tháng 500.000đồng (năm trăm ngàn đồng) kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ông Lương Hồng Tuấn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Ông Lương Hồng Tuấn H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001983 ngày 25/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên cần phải nộp thêm số tiền 300.000đồng.

Bà Văn Thị Kim P không chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/01/2022).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ