vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Minh Tr. Về con chung: Giao cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Lê Minh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Hậu - Lê Minh Trung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HT
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26.01.2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn
và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Kh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị T và bà Trần Thị Ng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Ng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh BT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh BT tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Tr – Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 192/2021/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2021, về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2021/QĐXX- HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2022/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Thôn Kim Bình, xã Hàm Thắng, huyện HTB, tỉnh BT. (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Lê Minh Tr, sinh năm: 1993. Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện HT, tỉnh BT. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hồ Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Giữa chị Hậvà anh Lê Minh Tr tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Nghĩa vào ngày 18/11/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh Trung thuộc khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện HT, tỉnh BT. Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau. Giữa hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được nên chị H đã về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 4/2019 cho đến nay. Nay chị H nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến mức không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Lê Minh Tr.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị H và anh Trung có 01 con chung gồm: Cháu Lê Trọng H, sinh ngày 19/5/2019. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Không yêu cầu anh Lê Minh Tr cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị H tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Bị đơn, anh Lê Minh Tr đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.

Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là anh Lê Minh Tr đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Minh Tr tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Nghĩa vào ngày 18/11/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh Trung thuộc khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện HT, tỉnh BT. Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau. Giữa hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được nên chị H đã về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 4/2019 cho đến nay. Nay chị H nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến mức không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Lê Minh Tr. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử cần được chấp nhận.

Về con chung, đề nghị giao cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Lê Minh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;

Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện HT.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Hơn nữa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn là anh Lê Minh Tr không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên xác định bị đơn đã từ bỏ các quyền tham gia tố tụng của mình. Do đó, tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn, giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Minh Tr tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Nghĩa vào ngày 18/11/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh Trung thuộc khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải nhau. Giữa hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được nên chị H đã về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 4/2019 cho đến nay. Nay chị H nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến mức không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Lê Minh Tr.

Theo biên bản xác minh tại nơi cư trú ngày 04/11/2021, có xác nhận của UBND thị trấn Tân Nghĩa đã khẳng định nội dung trình bày của nguyên đơn là đúng sự thật. Giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Minh Tr tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Nghĩa vào ngày 18/11/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh Trung thuộc khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện HT, tỉnh BT. Tuy nhiên, về mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến việc ly thân từ tháng 4/2019 cho đến nay thì địa phương không rõ. Chỉ xác định, hiện nay chị H không có mặt tại khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện HT, tỉnh BT.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Minh Tr tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tân Nghĩa vào ngày 18/11/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh Trung thuộc khu phố 2, thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nên chị H đã về nhà cha mẹ ruột ở từ tháng 4/2019 cho đến nay. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị H là có căn cứ để chấp nhận. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Minh Tr không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét ý kiến, nguyện vọng của bị đơn. Hơn nữa, việc bị đơn từ bỏ các quyền tham gia tố tụng của mình đã thể hiện ý chí không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình, phù hợp với lời khai của nguyên đơn về nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh Trung không có trách nhiệm gì với gia đình và hành vi đó đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị H và anh Trung có 01 con chung là cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019. Nguyện vọng của chị H là xin được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Không yêu cầu anh Lê Minh Tr cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu, nguyện vọng của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng, tính đến nay cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 là dưới 36 tháng tuổi và hiện đang sống với chị H nên cần tiếp tục giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về yêu cầu cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh Trung phải cấp dưỡng nuôi con. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

. Về chia tài sản và nợ: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 218, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hồ Thị H và anh Lê Minh Tr.

Về con chung: Giao cháu Lê Trọng H1, sinh ngày 19/5/2019 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Lê Minh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0006936 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT.

3. Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ