vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tráng Seo N và chị Sùng Thị T.

Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Tráng Thị Thu H, sinh ngày 12/3/2017 cho anh Tráng Seo N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi; chị Sùng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ vụ Tráng Seo N, Sùng Thị T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tráng Seo N và chị Sùng Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________________
Bản án số: 01 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 01 - 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vàng Văn Thủy

2. Bà Trần Thị Xuân

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2021/TLST- HNGĐ, ngày 26 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2021.

1. Nguyên đơn: Anh Tráng Seo N, năm sinh 1991

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mă ̣t.

2. Bị đơn: Chị Sùng Thị T, năm sinh: 1997

Địa chỉ cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Tráng Seo N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tráng Seo N và chị Sùng Thị T kết hôn với nhau ngày 15/02/2017 trên cơ sở tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 7 năm 2018 do anh N đi làm thuê ở xa, không hay về thăm gia đình được, nên ngày 04/ 11/ 2018 không biết vì lý do gì chị Sùng Thị T tự ý bỏ nhà đi không nói gì với anh và gia đình, anh N đã tìm mọi nơi, hỏi bạn bè, người thân trong gia đình, nhưng không có tin tức xác thực chị T đã đi đâu, làm gì và còn sống hay đã chết. Ngày 26 /02/2021 anh N đã làm đơn yêu cầu tuyên bố chị T mất tích. Đến ngày 23 /7 /2021 Tòa án đã ban hành quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự, cụ thể: Tuyên bố chị Sùng Thị T mất tích. Nay anh N thực sự không còn tình cảm gì với chị T nữa, nên anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T để đảm bảo cuộc sống riêng của anh N.

- Về nuôi con khi ly hôn: Trong quá trình chung sống anh Tráng Seo N và chị Sùng Thị T có 01 con chung là cháu Tráng Thị Thu H, sinh ngày 12/3/2017, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường và cháu không được tặng, cho thừa kế tài sản gì; hiện nay cháu H đang ở cùng anh N. Khi ly hôn anh N yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tráng Thị Thu H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện nay anh N làm ruộng nương, trồng trọt và chăn nuôi tại địa phương, thu nhập một tháng của anh khoảng 3.000.000 đồng, hiện anh có nhà riêng ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con.

- Những tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn; Sổ hộ khẩu chủ hộ ông C; Giấy khai sinh cháu H; Căn cước công dân anh N; Đơn xác nhận thu nhập anh N; Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

2. Đối với bị đơn: Sau khi Toà án đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng, nhưng vẫn không tiến hành lấy lời khai của chị T được, dẫn đến không tiến hành hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi con khi ly hôn giữa anh N và chị T.

4. Ý kiến của Viện kiểm sát:

4.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

- Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng theo Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo điều 70,72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4.2. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho anh Tráng Seo N được ly hôn với chị Sùng Thị T.

- Về con chung: Giao cháu Tráng Thị Thu H, sinh ngày 12/3/2017 cho anh Tráng Seo N được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo qui định của Pháp luật.

4.3. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của anh Tráng Seo N, Tòa án đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng vụ án dân sự hợp lệ như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên toà; Giấy triệu tập hai lần cho từng giai đoạn tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, để chị T có ý kiến của mình đối với yêu cầu của anh N và phải có mặt tại trụ sở Toà án để khai về mối quan hệ hôn nhân và nuôi con khi ly hôn giữa chị T và anh N, nhưng chị T vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, xâm phạm tới quyền lợi của người khác được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành: Xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Tráng Seo N và chị Sùng Thị T là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Đến ngày 04/ 11/2018 chị Sùng Thị T tự ý bỏ nhà đi không nói gì với anh và gia đình. Ngày 26 /02/ 2021 anh N đã làm đơn yêu cầu tuyên bố chị T mất tích. Ngày 23 /7/ 2021 Tòa án đã ban hành quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự, cụ thể: Tuyên bố chị Sùng Thị T mất tích. Nay tình cảm giữa anh N và chị T không còn, việc anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận.

Về nuôi con khi ly hôn: Trong quá trình chung sống anh Tráng Seo N và chị Sùng Thị T có 01 con chung là cháu Tráng Thị Thu H, sinh ngày 12/3/2017, hiện nay cháu H đang ở cùng anh N. Khi ly hôn anh N yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tráng Thị Thu H. Từ ngày chị T bỏ đi thì cháu H ở cùng với anh N, cháu luôn được đảm bảo quyền lợi về mọi mặt bình thường. Vì vậy, việc anh N đề nghị Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 1,3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Tráng Seo N không yêu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Anh Tráng Seo N phải chịu: 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1,3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tráng Seo N và chị Sùng Thị T.

2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Tráng Thị Thu H, sinh ngày 12/3/2017 cho anh Tráng Seo N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi; chị Sùng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ chịu án phí: Anh Tráng Seo N phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003918 ngày 26/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Anh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ