- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không trả kết quả đề nghị đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N là trái pháp luật.
- Căn cứ chính? Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HC-ST Ngày: 16-6-2022 V/v khiếu kiện hành vi hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Hanh.
2. Ông Nguyễn Đình La.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh phúc tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2021/TLST-HC ngày 14 tháng 10 năm 2021 về khiếu kiện hành vi hành chính theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HC ngày 13 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1945.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980, (Có mặt).
Địa chỉ: Số 6, đường NTT, xã ĐT, thành phố Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Văn bản uỷ quyền ngày 06 tháng 8 năm 2021).
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ: Thôn 3, xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quốc V - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng T - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. (Văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 10 năm 2021), (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 8 năm 2021, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông Nguyễn Văn N là chủ sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất khoảng 2,4 ha đất đồi rừng, địa chỉ thửa đất tại: Khu đồi S của Ủy ban nhân dân xã và Hợp tác xã nông nghiệp xã V. Từ năm 1995 đến nay sử dụng ổn định không tranh chấp với cá nhân, tổ chức nào. Ngày 11/02/2020 ông N đã ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu Ô là nhân viên Công ty luật Thái Hưng thay mặt ông N đến các cơ quan chức năng để làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 16/4/2021 thông qua đường bưu điện ông Ô đã gửi 01 bộ hồ sơ đầy đủ đề nghị đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên đến Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối chiếu với quy định của pháp luật thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Tuy nhiên, từ đó đến nay đã gần 04 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, Ủy ban nhân dân xã V huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn chưa trả kết quả đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông N.
Nhận thấy, việc không trả kết quả của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là trái quy định của pháp luật, xâm hại trực tiếp đến quyền lợi của ông N. Nay ông Nguyễn Văn H người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N đề nghị Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hành vi không trả kết quả cho công dân của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là trái quy định của pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc chấm dứt hành vi vi phạm, trả kết quả cho công dân theo đúng quy định của pháp luật.
- Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Nguyễn Hồng T vắng mặt nhưng lời khai trước đây, ông T trình bày: Ngày 19/4/2021 qua đường bưu điện, Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp nhận hồ sơ, đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn N; địa chỉ thôn Đ, xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành kiểm tra, xem xét hồ sơ, căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai xét thấy: Thửa đất ông N đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc quản lý, không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo khoản 2 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai.
Ngày 09/9/2021 Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc có công văn số 237/CV-UBND về việc không xác nhận vào đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn N. Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã gửi công văn số 237/CV-UBND ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn N. Tuy nhiên Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không có chứng cứ gì để chứng minh việc ông N đã nhận được công văn trên.
Nay ông Nguyễn Văn N đề nghị Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hành vi không trả kết quả cho công dân của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là trái quy định của pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc chấm dứt hành vi vi phạm, trả kết quả cho công dân theo đúng quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, tuyên bố hành vi không trả kết quả cho công dân của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là trái pháp luật. Buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD chấm dứt hành vi vi phạm, trả kết qủa cho ông Nguyễn Văn N theo đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
. Về thủ tục tố tụng: Ngày 16/4/2021 thông qua đường bưu điện ông ông Nguyễn Văn N đã gửi nộp 01 bộ hồ sơ gồm: 01 phiếu thu, 01 bản đồ giao đất lâm nghiệp, 01 biên bản giao đất lâm nghiệp tại thực địa, 01 sổ hộ khẩu, 01 căn cước công dân, 01 đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất khoảng 2,4 ha đất đồi rừng; địa chỉ thửa đất tại Khu đồi S, xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đến Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh để đề nghị làm thủ tục đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 19/4/2021 Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiếp nhận hồ sơ trên của ông Nguyễn Văn N nhưng Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không xem xét giải quyết trả hồ sơ kết quả cho ông N. Việc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không xem xét giải quyết trả hồ sơ kết quả cho ông N là hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính.
Ngày 04/8/2021 qua đường bưu điện Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc nhận được đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đề nghị Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hành vi không trả kết quả cho công dân của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là trái quy định của pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc chấm dứt hành vi vi phạm, trả kết quả cho công dân theo quy định của pháp luật là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 diều 116 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31 Luật tố tụng hành chính. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là ông Nguyễn Hồng T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Quyết định hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 157 Luật tố tụng hành chính Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện.
. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đề nghị Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hành vi không trả kết quả cho ông N của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc là trái pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc phải chấm dứt hành vi vi phạm, trả kết quả cho ông N là có căn cứ. Bởi lẽ, ngày 16/4/2021 thông qua đường bưu điện ông Nguyễn Văn N đã gửi hồ sơ đề nghị đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 19/4/2021 Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc nhận được hồ sơ của ông N. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không xem xét giải quyết trả hồ sơ, kết quả cho ông N theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng ngày 09/9/2021 Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc có công văn số 237/CV-UBND về việc không xác nhận vào đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn N. Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã gửi công văn số 237/CV-UBND ngày 09/9/2021 cho ông Nguyễn Văn N. Tuy nhiên Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không có chứng cứ gì để chứng minh việc ông N đã nhận được công văn trên. Mặt khác, tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N xác nhận ông N và ông chưa nhận được văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo quy định tại khoản 40 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai quy định:
40. Sửa đổi Điều 61 như sau: “Điều 61. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai.
1...
2. Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
a) Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày”.
3...
4. Thời gian quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được tính kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ;
Tại quyết định số 1830/QĐ-CT ngày 06/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành về lĩnh vực đất đai thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã có quy định “Thời hạn giải quyết 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ”
Như vậy, đối chiếu với quy định trên thì thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Ngày 19/4/2021 Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc nhận được hồ sơ của ông Nguyễn Văn N. Tuy nhiên, từ đó đến nay Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn chưa tra kết quả đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N là đã vi phạm về thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai, đã ảnh hưởng đến quyền lợi của ông N. Vì vậy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông N đối với Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 31, điểm c khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; điểm a khoản 2, khoản 4 Điều 61 Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ được sửa đổi theo khoản 40 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Quyết định số 1830/QĐ-CT ngày 06/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành về lĩnh vực đất đai thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc không trả kết quả đề nghị đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N là trái pháp luật. Buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc chấm dứt hành vi vi phạm, trả kết quả cho ông Nguyễn Văn N theo đúng quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ủy ban nhân dân xã V, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết Bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện TD; - Chi cục THADS huyện TD; - Lưu Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Tiến Dũng |