vanban.org

Bản án 01/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng NN.

Buộc vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng NN, như sau: Tiền gốc của hợp đồng ngày 05/8/2016 là: 59.000.000 đồng ( Năm mươi chín triệu đồng ); Nợ lãi tạm tính đến ngày 16/02/2022 là: 43.972.213 đồng ( Bốn mươi ba triệu, chín trăm bảy hai nghìn, hai trăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "kiện đòi nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng NN.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/DSST
Ngày: 16/02/2022
V/v: Tranh chấp kiện đòi nợ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tư Hải Phong và ông Lê Đình Thọ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Anh

Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2022. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sở thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2021/DSST, ngày 18 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-DS, ngày 24/01/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng NN

Địa chỉ: Địa chỉ: Số 2, đường LH, Phường Thành Công, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội. Có ông Phan Đức Vinh, sinh năm 1984, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng NN huyện Thanh Chương. Là người đại diện theo ủy quyền. Địa chỉ : Khối 3A, Thị trấn TC, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn CL, sinh năm 1978. Địa chỉ: Xóm Mỹ Sơn, xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà; Nguyễn TM, sinh năm 1979 ( vợ ông Lư ). Địa chỉ: Xóm Mỹ Sơn, xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

4. Người làm chứng: Anh; Nguyễn Cảnh M, sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm Mỹ Sơn, xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn, trình bày như sau: Ngày 05/08/2016, Ngân hàng NN và vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, có ký hợp đồng vay vốn với số tiền 200.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số: 3615-LAV-201605577 ngày 05 tháng 08 năm 2016, cụ thể của hợp đồng là cho vay số tiền vay: 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng); Mục đích vay vốn: Sửa nhà ở; Thời hạn cho vay: 36 tháng; Hạn trả nợ cuối cùng: Ngày 05 tháng 08 năm 2019. Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm tiền vay theo Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng số 20140079TCT05 ngày 13/11/2014, giá trị tài sản thế chấp theo định giá là: 515.720.000 đồng, bao gồm: Đất ở tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10; Địa chỉ thửa đất: Xóm Yên Mỹ, xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Diện tích đất thế chấp: 550.9 m2, giá trị theo định giá khi vay vốn là: 440.720.000 đồng. Tài sản gắn liền với đất là: Nhà ở cấp 4, diện tích 150m2, giá trị theo định giá khi vay vốn là: 75.000.000 đồng; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: BV 304622 mang tên ông Nguyễn CL và Bà Nguyễn TM do UBND huyện Thanh Chương cấp ngày 06 tháng 11 năm 2014.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay đã vi phạm nghĩa vụ theo nội dung của hợp đồng, nên khoản vay trên đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 04/10/2016, hiện tại đã chuyển sang nợ xấu. Tính đến ngày 16/02/2022 khoản vay đã quá hạn, với dư nợ tiền gốc quá hạn là: 59.000.000 đồng, số tiền lãi tạm tính là: 43.972.213 đồng (trong đó: Lãi trong hạn là: 32.334.117 đồng, lãi quá hạn là: 11.638.096 đồng )

Agribank Chi nhánh huyện TC đã dùng nhiều biện pháp nghiệp vụ thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu, như đôn đốc khách hàng tìm mọi nguồn thu để trả nợ, vận động Bên thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay tự bán tài sản thế chấp để trả nợ hoặc bàn giao tài sản thế chấp để Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cũng như phối hợp với UBND xã TY xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, nhưng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM không hợp tác trong quá trình xử lý nợ, không thực hiện đúng cam kết đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất bảo đảm tiền vay khi vay vốn cũng như các biên bản làm việc trong quá trình làm việc.

Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của các bên tại các điều khoản trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất bảo đảm tiền vay đã ký kết giữa Agribank Chi nhánh huyện TC với ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM và các Quyết định ủy quyền liên quan; để thu hồi vốn cho Nhà nước, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Agribank Chi nhánh huyện TC đề nghị Quý Toà án xem xét, để giải quyết theo quy định của pháp luật với các yêu cầu xét xử:

1. Tuyên buộc ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM phải trả nợ vay cho Agribank Chi nhánh huyện TC theo Hợp đồng tín dụng số: 3615-LAV-201605577 ngày 05 tháng 08 năm 2016, số tiền phải thanh toán tạm tính đến ngày 16 tháng 02 năm 2022 dư nợ tiền gốc là: 59.000.000 đồng; Nợ lãi tạm tính là: 43.972.213 đồng, trong đó: Lãi trong hạn là: 32.334.117 đồng, lãi quá hạn là: 11.638.096 đồng.

2. Tuyên buộc ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM phải tiếp tục trả lãi tiền vay từ ngày 17 tháng 02 năm 2022 cho đến khi thi hành án xong cho Agribank Chi nhánh huyện Thanh Chương theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 3615-LAV-201605577 ngày 05 tháng 08 năm 20121 đã ký kết giữa Agribank Chi nhánh huyện TC và ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM

3. Trường hợp ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM không thanh toán được nợ, đề nghị Tòa án Nhân dân huyện Thanh Chương tuyên buộc ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất số 20140079TCT 05 ngày 13/11/2014 theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.

Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhiều lần để công khai chứng cứ và hòa giải; song bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

Người làm chứng trình bày: Anh là em trai của anh Nguyễn CL, sinh năm 1978 và có vợ là Nguyễn TM; vợ chồng anh Nguyễn CL và các con đăng ký nhân khẩu thường trú tại xóm Mỹ Sơn, xã TY, huyện Thanh Chương; thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10, xã TY là của vợ chồng anh Nguyễn CL, trên thửa đất có 01 ngôi nhà Vê 03 gian, trước có mái tôn che mưa nắng, bên cạnh có 01 nhà bếp 02 gian, số điện thoại của vợ chồng anh Nguyễn CL là xxxx.xxx.xxx.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung: Đề nghị Tòa án, xử: Buộc vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM trả cho Ngân hàng NN, số nợ gốc còn thiếu là: 59.000.000đồng; Nợ lãi tạm tính là: 43.972.213 đồng, trong đó: Lãi trong hạn là: 32.334.117 đồng, lãi quá hạn là: 11.638.096 đồng. Tuyên bố tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 20140079TCT05 ngày 13/11/2014, giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng nông nghiệp và bên thế chấp là ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, đối với thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10; Địa chỉ thửa đất: Xóm Yên Mỹ, xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, để ngân hàng xử lý tài sản thế chấp thu hồi vốn theo quy định; vợ chồng ông Nguyễn CL phải chịu tiền án phí và chi phí thẩm định tại chỗ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng, cho nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM đến Tòa án để làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải, song cả hai vợ chồng đều vắng mặt. Tòa án cũng đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ, nhưng vợ chồng ông Nguyễn CL vẫn vắng mặt. Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt tại phiên tòa, cho nên Tòa án vẫn xét xử bình thường theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ngày 05/08/2016, Ngân hàng NN và vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, có ký hợp đồng cho vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM vay số tiền 200.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số: 3615-LAV-201605577 ngày 05 tháng 08 năm 2016; khi vay vốn có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10; Địa chỉ thửa đất: Xóm Yên Mỹ, xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, mang tên ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM do UBND huyện Thanh Chương cấp ngày 06 tháng 11 năm 2014; Hợp đồng thế chấp được chứng thực bởi UBND xã TY và có đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thanh Chương ( nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Thanh Chương ) ngày 13/11/2014 theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng ông Nguyễn CL đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng nông nghiệp như đã cam kết trong hợp đồng vay; đại diện Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, đề nghị vợ chồng ông Nguyễn CL thanh toán trả nợ, nhưng vợ chồng không thực hiện.

Tính đến ngày hôm nay vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, còn nợ Ngân hàng nông nghiệp, số tiền gốc còn thiếu là: 59.000.000đồng; Nợ lãi tạm tính là: 43.972.213 đồng, trong đó: Lãi trong hạn là: 32.334.117 đồng, lãi quá hạn là: 11.638.096 đồng.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy:

Tòa án đã tiến hành thẩm định xem xét tại chỗ có sự chứng kiến của đương sự và chính quyền địa phương cho thấy:

Thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10, có diện tích 550,9 m2 tại Xóm Mỹ Sơn ( xóm Yên Mỹ cũ ), xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đã được UBND huyện Thanh Chương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM.

Các chi phí thẩm định tại chỗ hết: 1.800.000 đồng ( Một triệu, tám trăm nghìn đồng ).

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc và lãi đã vay của Hợp đồng ngày 05/8/2016, với số tiền gốc còn thiếu là: 59.000.000đồng; Nợ lãi tạm tính là: 43.972.213 đồng, trong đó: Lãi trong hạn là: 32.334.117 đồng, lãi quá hạn là: 11.638.096 đồng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định là có căn cứ để chấp nhận; các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là có căn cứ, như Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và các chứng cứ giải ngân tiền, công văn đốc thúc trả nợ.

Xét ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có ý kiến gì, nên Tòa án không xem xét.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên:

Các ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được làm rõ tại phiên tòa.

Vì vậy cần buộc vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, có trách nhiệm nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng nông nghiệp đối với hợp đồng vay vốn ngày 05/8/2016, như yêu cầu của đại diện ngân hàng. Là hoàn toàn phù hợp với. Điều 274; 275; 288; 317; 318; 320; 321; 322; 323; 327; 463; 465; 466; 468 Bộ luật dân sự. Điều 27; 37 Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phải chịu tiền án phí và chi phí thẩm định tại chỗ theo quy định.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 147; 157; 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 274; 275; 288; 317; 318; 320; 321; 322; 323; 327; 463; 465; 466; 468 Bộ luật dân sự. Điều 27; 37 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 91; 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng NN.

2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng NN, như sau: Tiền gốc của hợp đồng ngày 05/8/2016 là: 59.000.000 đồng ( Năm mươi chín triệu đồng ); Nợ lãi tạm tính đến ngày 16/02/2022 là: 43.972.213 đồng ( Bốn mươi ba triệu, chín trăm bảy hai nghìn, hai trăm mười ba đồng ), trong đó: Lãi trong hạn là: 32.334.117 đồng, lãi quá hạn là: 11.638.096 đồng.

3. Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ nói trên cho Ngân hàng NN, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 172, tờ bản đồ số 10, có diện tích 550,9 m2 tại Xóm Mỹ Sơn ( xóm Yên Mỹ cũ ), xã TY, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đã được UBND huyện Thanh Chương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM; theo Hợp đồng thế chấp số 20140079TCT05 ngày 13/11/2014, giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng nông nghiệp và bên thế chấp là ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, có chứng thực của UBND xã TY, huyện Thanh Chương và đã được đăng ký giao dịch tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thanh Chương ( nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Thanh Chương ), tỉnh Nghệ An, ngày 13/11/2014 theo quy định của pháp luật.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp dùng để thanh toán theo thứ tự mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp. Nếu còn thừa thì được trả lại cho bên thế chấp tài sản; trường hợp tài sản thế chấp không đủ để trả nợ, thì vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM còn phải tiếp tục trả tiếp số tiền còn thiếu cho đến khi thi hành xong.

Trường hợp khi xử lý tài sản thế chấp, bên thế chấp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm hoặc thay đổi tài sản thế chấp bằng biện pháp bảo đảm khác và hai bên đã làm thủ tục giải trừ thế chấp, thì bên thế chấp được nhận lại toàn bộ giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng tài sản thế chấp và các giấy tờ liên quan ( nếu có ).

4. Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

4.1. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng NN, số tiền: 2.880.000 đồng ( Hai triệu, tám trăm, tám mươi nghìn đồng ) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008977 ngày 18/10/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

4.2. Vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, liên đới phải chịu: 5.148.000 đồng ( Năm triệu, một trăm bốn mươi tám nghìn đồng ), tiền án phí dân sự.

4.3. Vợ chồng ông Nguyễn CL và bà Nguyễn TM, phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho Ngân hàng NN, số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là: 1.800.000 đồng ( Một triệu, tám trăm ngàn đồng ).

5. Kể từ ngày 17/02/2022, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

6. Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.

Cỡ chữ