- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP B - ông Lê Minh L, t"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với ông Lê Minh L, theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Cà Mau và ông Lê Minh L.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/DS-ST Ngày 06 - 01 - 2022 “V/v tranh chấp hợp đồng vay” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Chí Nguyện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chính
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2021/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng vay, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2021/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B
Địa chỉ: Tầng A Tòa nhà T, số 210, T, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông La Thiên T - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Cà Mau.
Địa chỉ chi nhánh tại Cà Mau: Số A, A, phường 7, Tp Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của giám đốc chi nhánh: Bà Đoàn Thúy V, sinh năm 1992 - Chức vụ: Chuyên viên phòng xử lý nợ của Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Minh L, sinh năm 1970. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Đại diện cho nguyên đơn, bà Đoàn Thúy V trình bày: Vào ngày 20/3/2018, Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Cà Mau và ông Lê Minh L công tác tại Trạm y tế xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình có ký hợp đồng tín dụng số HĐTD9332018172 và khế ước nhận nợ số 9332018172/01 ngày 20/3/2018 vay số tiền là 170.000.000đ, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 12%/năm, thời hạn vay 60 tháng, hình thức vay tín chấp không tài sản đảm bảo, thanh toán bằng tiền lương hàng tháng, không có bảo lãnh của bên thứ ba.
Sau khi thực hiện hợp đồng vay ông L đã thực hiện trả vốn và lãi hàng tháng bằng cách trừ lương, nhưng đến ngày 05/4/2021 thì ngưng. Phía Ngân hàng không xác minh làm việc trực tiếp với ông L về việc không thực hiện trả nợ theo hợp đồng. Đồng thời không có tài liệu chứng minh hay xác minh đối với bà Nguyễn Thị L là vợ ông L có sử dụng vốn vay của ông L hay không.
Căn cứ hợp đồng vay thì ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L và bà L là vợ của ông L có nghĩa vụ liên đới phải thanh toán nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử 06/01/2022 ông L, bà L còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 80.501.162đ (trong đó: nợ gốc 73.644.000đ, lãi 6.857.162đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Bị đơn là ông Lê Minh L: Từ khi thụ lý vụ án cho đến ngày mở phiên tòa xét xử Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L. Nhưng ông L vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Do đó, căn cứ vào hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà ông L đã ký với Ngân hàng và lời trình bày của Ngân hàng để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L (vợ ông L): Từ khi thụ lý vụ án cho đến ngày mở phiên tòa xét xử Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà L. Nhưng bà L vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Do đó, căn cứ vào hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà ông L đã ký với Ngân hàng và lời trình bày của Ngân hàng để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP B thuộc lĩnh vực tranh chấp về hợp đồng tín dụng; Ông Lê Minh L là bị đơn, có nơi cư trú tại ấp 5, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Minh L và bà Nguyễn Thị L nhưng ông L, bà L vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt ông L, bà L theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung của vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản). Theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Cà Mau và ông Lê Minh L công tác tại Trạm y tế xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình ký kết hợp đồng tín dụng số HDTD9332018172 và khế ước nhận nợ số 9332018172/01 ngày 20/3/2018 vay số tiền là 170.000.000đ, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 12%/năm, thời hạn vay 60 tháng, hình thức vay tín chấp không tài sản đảm bảo, thanh toán bằng tiền lương hàng tháng, không có bảo lãnh của bên thứ ba. Theo giấy đề nghị vay vốn và hợp đồng tín dụng không có người đồng trách nhiệm của bên vay.
Xét về mục đích vay tiền của ông L là vay tiêu dùng, nhưng không có tài liệu chứng minh ông L sử dụng vốn vay vào sinh hoạt cho cá nhân hay sinh hoạt cho gia đình. Theo trình bày của Ngân hàng bà L là vợ của ông L nhưng không có tài liệu chứng minh. Sau khi ông L ngưng thanh toán nợ vay, vi phạm hợp đồng Ngân hàng không xác minh làm việc trực tiếp với ông L về việc không thực hiện trả nợ theo hợp đồng. Đồng thời không có tài liệu chứng minh hay xác minh đối với bà Nguyễn Thị L là vợ ông L có sử dụng vốn vay của ông L hay không nên không có cơ sở buộc bà L có trách nhiệm liên đới thanh toán nợ cùng với ông L.
Ngân hàng ký hợp đồng trực tiếp với ông L, hình thức thanh toán từ thu nhập lương hàng tháng, ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và hiện ông L vẫn còn đang công tác tại Trạm y tế xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình nên buộc ông L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng là phù hợp. Không có người đồng trách nhiệm của bên vay. Tính đến ngày xét xử 06/01/2022 ông L còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 80.501.162đ (trong đó: nợ gốc 73.644.000đ, lãi 6.857.162đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Đối với ông L, bà L vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh mục đích sử dụng vốn vay của ông L và thanh toán nợ cho Ngân hàng như thế nào nên căn cứ vào Hợp đồng, đề nghị vay vốn và khế ước nhận nợ do Ngân hàng cung cấp để xem xét theo yêu cầu của Ngân hàng.
Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và ông L không xác lập hợp đồng thế chấp tài sản, không có hợp đồng bảo lãnh của bên thứ ba về khoản nợ vay, không có người đồng trách nhiệm của bên vay nên chỉ xem xét về yêu cầu thanh toán nợ của Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đến việc bảo lãnh của bên thứ ba.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông L nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, khoản 1 điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B đối với ông Lê Minh L, theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Cà Mau và ông Lê Minh L.
- Buộc ông Lê Minh L có nghĩa vụ thanh toán số nợ cho Ngân hàng TMCP B theo hợp đồng tín dụng đã ký kết số HDTD9332018172 và khế ước nhận nợ số 9332018172/01 ngày 20/3/2018 tính đến thời điểm xét xử ngày 06/01/2022 với số tiền 80.501.162đ (trong đó: nợ gốc 73.644.000đ, lãi 6.857.162đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lê Minh L phải nộp số tiền là 4.025.000đ. (chưa nộp)
- Ngân hàng TMCP B không phải nộp án phí. Vào ngày 01 tháng 6 năm 2021, đã Luân nộp 1.877.000đ theo biên lai số 0011655 được hoàn lại khi bản án có hiệu lực.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêù 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| NƠI NHẬN - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - THA dân sự huyện Thới Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Diệp Chí Nguyện |