vanban.org

Bản án 01/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 12/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Phan H.

Buộc bị đơn anh Trần Văn Th phải trả cho nguyên đơn anh Trần Phan H số tiền 23.961.000 đồng (Hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi một nghìn đồng). "Kể t ngày bên có quy n yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đ i v i khoản ti n phải thi hành án, bên có ngh a v phải thi hành án còn phải chịu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TRẦN PHAN H - TRẦN VĂN TH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Phan H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂNDÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/DS-ST
Ngày 12 - 7 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂNDANH

NƯỚC CỘNG HOÀXÃ HỘI CHỦNGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂNHUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Thành và bà Phạm Thị Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2021/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa cácđương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Phan H, sinh năm 1987; trú tại: Bản Đ 3, xã Chiềng Kh, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn Th, sinh năm 1984; trú tại: Bản Hồng N, xã Chiềng Kh, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai tại nguyên đơn anh Trần Phan H trình bày: Ngày 21/02/2019 anh Trần Văn Th, sinh năm 1984; trú tại: Bản Hồng N, xã Chiềng Kh, huyện Sông M, tỉnh Sơn La có vay số tiền là 17.115.000đ (mười bảy triệu một trăm mười lăm nghìn đồng), hai bên có viết giấy vay tiền và anh Th ký nhận vay. Hai bên quy định thời hạn vay là một tháng thì anh Th phải trả nợ đầy đủ. Sau thời hạn một tháng anh Th không trả cho anh H số tiền đã vay, mặc dù anh H đã đến nhà anh Th để đòi tiền nhiều lần.

Nay, anh H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Trần Văn Th phải trả số tiền gốc đã vay là 17.115.000đ (mười bảy triệu một trăm mười lăm nghìn đồng), và tiền lãi hàng tháng kể từ thời điểm vay (ngày 21/02/2019) cho đến tháng 01 năm 2022 là 35 tháng với lãi suất tính là 1,0%/tháng. Như vậy tiền lãi một tháng làm tròn là 171.000 đồng x 35 tháng = 5.985.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc là 17.115.000 đồng + tiền lãi 5.985.000 đồng = 23.100.000 đồng.

* Bị anh Trần Văn Th có bản tự khai ngày 08/3/2022 trình bày như sau: Ngày 21/02/2019 anh có vay của anh Trần Phan H số tiền là 17.115.000đ với thời hạn vay là một tháng. Nhưng anh cho rằng anh H làm tư vấn bán bảo hiểm rồi anh Th mua bản hiểm cho hai đứa con nhỏ của mình với anh H. Sau đó con anh Th bị ốm phải nhập viện, anh Th báo cho anh H làm thủ tục để hưởng chế độ bảo hiểm nhưng giấy nhập viện bị rách nát nên không làm thủ tục bảo hiểm được, anh Th có nhờ anh H tìm lại giấy tờ nhưng không tìm được, sau đó hợp đồng bảo hiểm bị hủy do không thực hiện nghĩa vụ. Anh Th cho rằng số tiền đã vay 17.115.000 đồng của anh H là để thực hiện nghĩa vụ nộp hàng tháng cho hợp đồng bảo hiểm của con anh. Nay con anh không được hưởng chế độ bảo hiểm do bị ốm nên anh không trả số tiền vay cho anh H.

Toà án nhân dân huyện Sông Mã đã mở phiên hoà giải để các bên đương sự có tranh chấp tự thoả thuận giải quyết với nhau về toàn bộ nội dung vụ án. Tuy nhiên trong buổi hòa giải bị đơn không có mặt, nên không tiến hành hòa giải được. Khi anh Th đến tòa án viết bản tự khai Tòa án yêu cầu anh Th cung cấp các giấy tờ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm của con anh và cung cấp giấy tờ liên quan đến việc khám chữa bệnh và viện phí của các con anh thì anh Th không cung cấp được.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn: Anh Trần Phan H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị đơn anh Trần Văn Th phải trả lại cho nguyên đơn tổng số tiền gốc là 17.115.000 đồng và tiền lãi phát sinh x 01%/ tháng từ thời điểm vay (21/02/2019) đến ngày xét xử (12/7/2022), tính tròn là 40 tháng = 17.115.000đ x 01% x 40 tháng = 6.846.000đ tiền lãi. Tổng gốc + lãi = 17.115.000đ tiền gốc + 6.846.000đ tiền lãi = 23.961.000đ (hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi một nghìn đồng).

- Bị đơn: Anh Trần Văn Th trình bày như sau: Anh Th thừa nhận có nợ của nguyên đơn số tiền 17.115.000đ vào ngày 21/02/2019. Nhưng anh Th không thanh toán nợ cho anh H vì anh H không làm thủ tục chi trả bảo hiểm cho con anh.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Anh Trần Phan H khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn Th phải trả số tiền gốc là 17.115.000 đồng và tiền lãi phát sinh là yêu cầu hợp pháp và có căn cứ. Việc bị đơn cho rằng số tiền vay là để đóng bảo hiểm hàng tháng cho các con, nhưng khi vay hai bên có viết giấy vay tiền và ký nhận đầy đủ nên bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán khoản nợ cho nguyên đơn. Việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm giữa các con của bị đơn với nguyên đơn, bị đơn không cung cấp được chứng cứ gì nên không xem xét, nếu có chứng cứ bị đơn có thể khởi kiện sang vụ án khác.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn Th cư trú tại Bản Hồng N, xã Chiềng Kh, huyện Sông M, tỉnh Sơn La theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn anh Trần Phan H khởi kiện buộc bị đơn anh Trần Văn Th phải trả số tiền gốc là 17.115.000 đồng (thời điểm vay ngày 21/2/2019) + tiền lãi 1%/tháng đến thời điểm xét xử (40 tháng) = 6.846.000 đồng = 23.961.000 đồng. Xác định đây là quan hệ pháp luật: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo khỏan 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Về nội dung vụ án: Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ đương sự cung cấp đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ngày 21/02/2019 nguyên đơn anh Trần Phan H và bị đơn anh Trần Văn Th có lập "Giấy vay tiền" với tổng số tiền là 17.115.000 đồng, thỏa thuận xác định thời hạn trả nợ là một tháng bên vay thu xếp trả tiền. Hai bên không thỏa thuận phần lãi suất trong giấy vay tiền nhưng đến thời điểm khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi với số tiền đã vay là 1,0%/tháng, tính từ ngày vay đến ngày xét xử (12/7/2022), làm tròn là 40 tháng. Như vậy, giao dịch về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự.

Xét yêu cầu của nguyên đơn anh Trần Phan H buộc bị đơn Trần Văn Th phải trả số tiền gốc và lãi là 23.961.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng, việc bị đơn vay tiền của nguyên đơn là tự nguyện và chủ động, hai bên xác định thời hạn vay là một tháng bên vay trả tiền, nhưng khi bên cho vay cần đòi lại tiền thì bên vay không trả như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ. Do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét lời khai của bị đơn: Bị đơn Anh Trần Văn Th trình bày như sau: Anh Th thừa nhận có nợ của nguyên đơn số tiền 17.115.000đ vào ngày 21/02/2019. Nhưng anh Th không thanh toán nợ cho anh H vì anh H không làm thủ tục chi trả bảo hiểm cho con của mình. Tuy nhiên anh Th không cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện việc giao kết hay vi phạm hợp đồng bảo hiểm giữa anh Th với nguyên đơn. Dó đó không có căn cứ để giải quyết trong vụ án này. Ngoài ra đơn khởi kiện và bản khai của nguyên đơn cũng không ghi thể hiện việc cho vay tiền là để đóng bảo hiểm.

Với những chứng cứ phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Phan H. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 23.9610.000đ cả gốc và lãi.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản có giá ngạch và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chị án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; khỏan 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Phan H.

2. Buộc bị đơn anh Trần Văn Th phải trả cho nguyên đơn anh Trần Phan H số tiền 23.961.000 đồng (Hai mươi ba triệu chín trăm sáu mươi một nghìn đồng).

"Kể t ngày bên có quy n yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đ i v i khoản ti n phải thi hành án, bên có ngh a v phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi đ i v i s ti n ch m trả theo quy định tại Đi u 357, khoản 2 Đi u 468 Bộ lu t Dân sự 2015 tương ng v i thời gian ch m trả tại thời điểm thanh toán".

3. Về án phí:

- Bị đơn anh Trần Văn Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.198.000 đồng (một triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng).

- Hoàn trả cho nguyên đơn anh Trần Phan H số tiền 557.000đ (năm trăm năm mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai Số: AA/2021/0000769 ngày 13 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/7/2022).

Cỡ chữ