- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự sơ thẩm về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản""
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông Trần Công T số tiền vay là: 93.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 476 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/DS-ST Ngày 13/5/2022 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Vương
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Vy Thị Hoàng Dung
2. Bà Mấu Thị Mộng Mơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cảnh - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2021/TLST - DS, ngày 19 tháng 11 năm 2021, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Công T - sinh năm 1960.
Địa chỉ: TDP HT, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
(ông T có mặt)
Bị đơn: - Ông Hoàng Ngọc Á - sinh năm 1972.
- Bà Hoàng Thị Thu H - sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố HP, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
(ông Á, bà H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 10 năm 2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Công T trình bày:
Ngày 13/11/2015, ông Trần Công T có vợ chồng ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H, địa chỉ: TDP HP, thị trấn TH, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa vay số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 04%/tháng, thời hạn vay là 06 tháng, hai bên có viết giấy mượn tiền (đề ngày 13/11/2015), đến hạn trả nợ ông Á, bà H xin gia hạn thêm 06 (sáu) tháng nữa sẽ hoàn trả cả tiền gốc và tiền lãi (tức là đến tháng 12/2016 âm lịch). Tuy nhiên đến hạn trả nợ ông Á, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông T, ông T đã nhiều lần gặp ông Á, bà H yêu cầu trả số nợ trên, nhưng ông Á, bà H không trả gây khó khăn cho ông T. Vì vậy, ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện KS giải quyết buộc vợ chồng ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông T số tiền vay nợ là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi 20%/năm, tính từ ngày 13/11/2015 đến ngày 12/11/2021 là 72 tháng: (50.000.000đ x 20%/năm x 72 tháng) = 60.000.000đ; Tổng cộng là: 110.000.000đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T rút một phần yêu cầu về lãi suất, ông T yêu cầu ông Ánh, bà H phải trả tiền lãi là 13,5%/năm, tính từ ngày 13/11/2015 đến ngày 12/5/2022 là 78 tháng (50.000.000đ x 13,5%/năm x 78 tháng) = 43.875.000đ. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 93.875.000đ (Chín mươi ba triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Tại bản tự khai ngày 19/11/2021, bị đơn bà Hoàng Thị Thu H trình bày:
Ngày 13/11/2015, vợ chồng bà H có vay của ông Trần Công T số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 04%/tháng, thời hạn vay là 06 tháng, hai bên có viết giấy mượn tiền đề ngày 13/11/2015, (giấy mượn tiền ghi cháu ÁT, nhưng ký xác nhận Hoàng Ngọc Á, “ÁT” là tên nhà hàng, tiệc cưới của vợ chồng bà H, còn ký xác nhận Hoàng Ngọc Á là chồng bà H), đến thời hạn vợ chồng bà H chưa trả được, sau đó vợ chồng bà H xin gia hạn thêm 06 tháng đến tháng 12 âm lịch hoàn trả, nay chúng bà H đồng ý trả nợ tiền gốc là 50.000.000đ, và lãi suất theo quy định của pháp luật, nhưng do dịch bệnh vợ chồng bà Hương chưa có khả năng trả được số tiền trên cho ông Trần Công T như đã cam kết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về giải quyết toàn bộ vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn đã vi phạm quy định về nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
Buộc ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông ông Trần Công T số tiền là 93.875.000đ; trong đó: Tiền gốc: 50.000.000đ, tiền lãi: 43.875.000đ.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Nguyên đơn cung cấp: Bản chính giấy mượn tiền ngày 13/11/2015, bản sao sổ hộ khẩu đứng tên chủ hộ Trần Công T, bản sao giấy chứng minh nhân dân của ông Trần Công T.
Bị đơn cung cấp: Bản tự khai ngày 19/11/2021 của bà Hoàng Thị Thu H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào ý kiến tranh luận tại phiên tòa; đề nghị của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Công T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện KS giải quyết buộc ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả số tiền nợ vay, nên đây là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện KS.
- Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn ông Trần Công T đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa, nhưng ông Á, bà H vắng mặt. Xét thấy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
. Về nội dung vụ án: Theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ông Trần Công T có cho ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H vay số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), hai bên có viết giấy mượn tiền (đề ngày 13/11/2015), có chữ ký của ông Á. Việc vay tiền và viết giấy vay tiền được bà H xác nhận là đúng sự thật (Tại bản tự khai ngày 19/11/2021), nên bản gốc của giấy vay tiền đề ngày 13/11/2015 là tài liệu, chứng cứ của vụ án. Đến hạn trả nợ ông Á, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông T, ông T đã nhiều lần đến gặp ông Á, bà H yêu cầu trả hết số nợ trên, nhưng ông Á, bà H không trả nợ gây khó khăn cho ông T.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 19/11/2021, vợ chồng bà H đồng ý trả cho ông T tiền gốc là 50.000.000đ, và tiền lãi theo quy định của pháp luật, nhưng do dịch bệnh vợ chồng bà H chưa có khả năng trả được số tiền trên cho ông T như đã cam kết, bà H sẽ trả cho ông T trong thời gian gần nhất. Yêu cầu của ông Á, bà H không được nguyên đơn chấp thuận, nguyên đơn yêu cầu ông Á, bà H phải trả ngay toàn bộ số tiền gốc và lãi cho ông T.
Xét thấy, việc vay tài sản đã kéo dài một thời gian nhưng bị đơn không có thiện chí trả nợ đã làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật, nên căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông Trần Công T số tiền nợ gốc là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Xét về lãi suất của khoản vay: Ông Trần Công T yêu cầu ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông T tiền lãi suất là 20%/năm, tính từ ngày 13/11/2015 đến ngày 12/11/2021 là 72 tháng; (50.000.000đ x 20%/năm x 72 tháng) = 60.000.000đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi kết thúc phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T rút một phần yêu cầu về lãi suất của khoản tiền vay là 16.125.000đ, ông T chỉ yêu cầu ông Á, bà H phải trả tiền lãi suất là 13.5%/năm. Xét thấy việc rút yêu cầu của ông T là tự nguyện, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử số tiền lãi là 16.125.000đ.
Xét yêu cầu về lãi suất trong hợp đồng do các bên có thỏa thuận là 04%/tháng nhưng ông Trần Công T yêu cầu ông Á, bà H trả lãi suất 13.5%/năm, tiền lãi tính từ ngày 13/11/2015 đến ngày 12/5/2022 là 78 tháng, cụ thể là: (50.000.000đ x 13,5%/năm) x 78 tháng = 43.875.000đ. Yêu cầu của ông T phù hợp quy định của pháp luật nên căn cứ khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005, Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Buộc ông Á, bà H phải trả cho ông T số tiền lãi là 43.875.000đ.
. Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện.
. Về án phí: Ông Á, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật là (93.875.000đ x 5%) = 4.693.750 đồng.
Hoàn trả lại cho ông Trần Công T 2.700.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 244, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Căn cứ Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.
- Căn cứ Điều 4, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vị phạm.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông Trần Công T số tiền vay là: 93.875.000đ (Chín mươi ba triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); trong đó: Tiền gốc: 50.000.000đ, tiền lãi: 43.875.000đ.
[2]. Đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Trần Công T về việc ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải trả cho ông Trần Công T số tiền lãi của khoản vay là: 16.125.000đ (Mười sáu triệu một trăm hai mươi năm nghìn đồng).
[3]. Về án phí:
- Ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật là 4.693.750 đồng (Bằng chữ: Bốn triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
- Hoàn trả lại cho ông Trần Công T 2.700.000đ (Bằng chữ: Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0008126 ngày 19/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
[3]. Quy định: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày ông Trần Công T có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải thi hành án cho người được thi hành án) mà ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H chưa thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Trần Công T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ông Hoàng Ngọc Á và bà Hoàng Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện KS; - THADS huyện KS; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Văn Vương |