vanban.org

Bản án 01/2021/LĐ-PT — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 13/01/2021 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Bác kháng cáo của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD do ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2020/LĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Tranh chấp tiền đóng bảo hiểm và quyết định cách chức giữa bà H và HTX SD"
  • Tòa quyết gì? Xử: Bác kháng cáo của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD do ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 123 Bộ luật Lao động; Điều 125 Bộ luật Lao động
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/LĐ-PT
Ngày: 13-01-2021
(V/v:Tranh chấp tiền đóng bảo
hiểm và quyết định cách chức)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Hà Giang

2. Ông Tạ Văn Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hưng - Kiểm sát viên

-Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2020/TL-LĐPT ngày 28 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp tiền đóng bảo hiểm và quyết định cách chức”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐ - PT ngày 04 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1967

Địa chỉ: Khu C, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Có mặt

Bị đơn: Hợp tác xã (HTX) dịch vụ Nông nghiệp SD

Địa chỉ: Khu C, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T- Chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) kiêm Giám đốc.

Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lê Văn C - Luật sư Công ty luật Hoàng Long P&T - Đoàn luật sư tỉnh Phú Thọ.

Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội huyện T

Địa chỉ: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Đ - Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phi T - Chuyên quản thu Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà được đại hội xã viên HTX dịch vụ Nông nghiệp SD bầu vào Hội đồng quản trị HTX này 01/4/2016 (Nhiệm kỳ 5 năm 2016 - 2021). Trong quá trình làm việc bà luôn chấp hành tốt Điều lệ, quy chế của HTX dịch vụ Nông nghiệp SD đề ra và hoàn thành các công việc được giao. Đến tháng 5/2017 bà có mắc một số lỗi trong cách ứng xử; sau đó đã được Thường vụ đảng ủy và UBND xã họp ngày 06/02/2018 kết luận và nhắc nhở cá nhân bà đã rút kinh nghiệm. Năm 2018, 2019 bà hoàn thành nhiệm vụ không mắc lỗi gì, tuy nhiên, ngày 05/11/2019 bà không hiểu tại sao HTX dịch vụ Nông nghiệp SD ban hành quyết định số 06-QĐ-HĐQT về việc cách chức chức vụ Phó giám đốc HTX dịch vụ Nông nghiệp SD đối với bà. Trước khi HTX ban hành quyết định cách chức HTX không thông báo trước cho bà biết; trong Quyết định ghi những lý do bà vi phạm để làm căn cứ ban hành quyết định, bà thấy không đúng quy định của pháp luật, việc này đã làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của bà. Ông Nguyễn Đức T- Chủ tịch HĐQT HTX dịch vụ Nông nghiệp SD trình bày quyết định cách chức đối với bà ban hành là ngày 05/12/2019 do lỗi đánh máy nên đề nhầm là ngày 05/11/2019, bà không nhất trí vì bà chỉ được nhận quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05.11.2019 trên bàn làm việc và bà xác định quyết định cách chức ông T ban hành là ngày 05.11.2019 chứ không phải ngày 05.12.2019. Ông T ban hành quyết định ngày 05/11/2019, căn cứ biên bản họp ngày 03/12/2019 là không đúng, sau đó ông T hợp thức bằng cách ban hành lại quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 5.12.2019. Vì vậy, bà cho rằng ông T ban hành quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 và quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 thay thế quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 5.12.2019 là trái quy định của pháp luật. Nay bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện T giải quyết:

Thứ nhất: Hủy quyết định Cách chức - chức vụ - Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 về việc thu hồi quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định Cách chức - chức vụ - Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. và yêu cầu HTX dịch vụ Nông nghiệp SD bổi thường thiệt hại cho bà cụ thể như sau:

- Bồi thường uy tín, danh dự cho bà số tiền 20.000.000đồng.

- Sau khi ban hành quyết định cách chức, HTX đã T toán cho bà tiền lương chức vụ Phó giám đốc HTX đến hết tháng 12/2019, nay bà đề nghị bồi thường tiền lương những ngày bà bị cách chức Phó giám đốc HTX từ 01/01/2020 đến 30/6/2020 số tiền 1.370.000đồng/tháng; từ 01/7/2020 đến 7/9/2020 số tiền 1.000.000đồng/tháng.

Thứ hai: Bà được hưởng lương thuộc trường hợp đóng Bảo hiểm xã Hội, nhưng ông T không đóng bảo hiểm cho bà nay bà đề nghị Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD đóng bảo hiểm cho bà từ ngày 01/4/2016 đến nay.

Trước đây bà đề nghị khôi phục lại chức vụ Phó giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp SD nay tại phiên tòa bà tự nguyện rút yêu cầu khôi phục lại chức vụ Phó giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp SD. Bà cũng xin rút yêu cầu HTX dịch vụ nông nghiệp SD phải bồi thường tiền công bảo vệ trả thiếu từ năm 2017 và tiền công bảo vệ thực vật, dự tính, dự báo từ năm 2016 đến nay.

Đại diện của bị đơn là ông Nguyễn Đức Ttrình bày:

Hội đồng quản trị HTX nông nghiệp SD căn cứ vào quy định của Luật - Điều lệ, quy chế để cách chức Phó giám đốc HTX đối với bà Nguyễn Thị H.

Đối với chức danh Phó giám đốc HTX, Luật HTX năm 2012 không đề cập đến phải bầu, điều lệ HTX xây dựng không phải bầu, chức danh này do Chủ tịch HĐQT - Giám đốc HTX bổ nhiệm, phân công trực tiếp từ thành viên HĐQT, để điều hành công việc khi được giám đốc giao nhiệm vụ.

Theo nội dung đơn khởi kiện của bà H, ông thầy rằng bà H nêu chưa đúng sự thật vì trong thời gian 03 năm 08 tháng được bổ nhiệm phó giám đốc HTX đã mắc những khuyết điểm sau:

1. Xúc phạm cấp dưới nói chị Ngọc là kế toán HTX là ngu;

2. Tuyên truyền nói xấu ông T là giám đốc HTX, với bà Hoa làm khuyến nông, làm mất uy tín của ông T, bà Hoa, gây nghi ngờ lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ;

3. Tuyên truyền thành viên Đội 7 đi dự đại hội có ý kiến không chấp hành nghị quyết của đại hội, tổng kết năm trước về việc đóng thêm 03 lạng lúa để chi trả công cho cán bộ, đánh và phát thuốc bả chuột là thiếu tư cách cán bộ;

4. Tiếp thành viên để giải quyết công việc theo ý kiến của thành viên tại trụ sở HTX, không tự kiềm chế bản thân dẫn đến cãi nhau với thành viên Đội 7 (Chị Mận Hợp), gây ức chế, bức xúc cho thành viên là không hoàn thành công việc được giao;

5. Đi lấy nước ruộng của nhà tại khu đồng Nhà Chuông, tranh nhau lấy nước với thành viên Đội 2 (Chị Quyên Trường), cãi chửi nhau rồi gọi điện thoại cho chồng ra đánh chị Quyên gây thương tích phải bồi thường để lại dư luận không tốt cho HTX;

Những nội dung sai phạm của bà H đã được HTX báo cáo Đảng ủy, UBND xã, sau đó được đồng chí chủ tịch UBND xã dự họp và kết luận ngày 13/7/2017 và yêu cầu bà H viết kiểm điểm, nhận hình thức nhắc nhở. Sau nhiều lần họp kiểm điểm nhắc nhở, ngày 08/8/2017 bà H mới viết kiểm điểm nộp cho HĐQT - HTX và hứa nếu còn sai phạm những vấn đề như trên về cách ứng xử công việc được giao, đạo đức người cán bộ sẽ làm đơn xin rút thành viên HĐQT - HTX và hứa sẽ báo cáo Đại hội.

Đến tháng 7 năm 2017, HTX tiếp tục phát hiện những sai phạm như sau:

Được giao nhiệm vụ nghiệm thu diện tích các đội trồng cây vụ đông để thu phí dịch vụ, đã tự ý gửi diện tích xuống hai đội để có số tiền 861.000 đồng sau khi hai đội báo cáo tôi đã chỉ đạo nộp tiền vào quỹ HTX.

Năm 2019 tiếp tục phát hiện sai phạm của bà H như sau:

Ngày 09/5/2019 họp giao ban giữa HTX và Tổ khuyến nông về công tác phòng trừ sâu bệnh, không tôn trọng chủ trì cuộc họp và các thành viên dự họp, cãi nhau với cấp dưới tại cuộc họp; sau buổi họp HĐQT - HTX yêu cầu viết bản kiểm điểm nhưng bà H không viết, HĐQT phải viết báo cáo lên Thường trực HĐND để xem xét tư cách đại biểu HĐND của bà H.

Bà H được giao nhiệm vụ tổng hợp đăng ký lúa giống vụ chiêm năm 2017 và cấp phát cho các đội, cùng đoàn kiểm tra của huyện và UBND xã đi nghiệm thu; sau đó, bà H cung cấp số liệu cho người dân đi kiện làm ảnh hưởng đến HTX, UBND xã, phòng Nông nghiệp như vậy bà H đã không hoàn thành nhiệm vụ.

Với 08 khuyết điểm nêu trên, bà H đã được tập thể góp ý kiến nhiều lần không sửa chữa làm ảnh hưởng đến tập thể, cá nhân gây mất đoàn kết nội bộ; căn cứ vào bản kiểm điểm ngày 08/8/2017, thay mặt HTX tôi đã cách chức Phó giám đốc HTX của bà H; theo như bản kiểm điểm bà H đã viết, nhận hình thức kỷ luật, HĐQT đủ điều kiện đưa những khuyết điểm sai phạm của bà H ra tại Đại hội đề nghị cách chức, miễn nhiệm chức danh thành viên HĐQT - HTX.

Đối với nội dung bà H nêu đề nghị Tòa án hủy Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019, quyết định số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 và quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 của HTX và đề nghị bồi thường theo quy định của pháp luật thì quan điểm của ông như sau: Do cán bộ kế toán văn phòng có sai sót trong việc soạn thảo văn bản nên khi ông ký đã không xem xét kỹ, đến ngày 08/12/2019, sau khi phát hiện sai sót thì đồng chí kế toán đã viết bản tường trình báo cáo HĐQT - HTX xem xét giải quyết. Căn cứ bản tường trình của đồng chí kế toán, HĐQT - HTX đã thống nhất ra Quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 thu hồi Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 thay thế Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019. Sau khi ban hành quyết định, HTX giao cho cán bộ chuyên môn giao cho bà H. Vì vậy, Quyết định cách chức số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 là không có hiệu lực vì đã được thay thế bằng quyết định cách chức 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019, trước khi ban hành quyết định cách chức bà H, HTX có biên bản họp HĐQT có sự tham dự của ban kiểm soát ngày 03 tháng 12 năm 2019. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T bác yêu cầu khởi kiện của bà H.

Đối với nội dung bà H nêu HTX không đóng bảo hiểm bắt buộc cho bà thì quan điểm của ông như sau việc bà H có thuộc trường hợp được tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật hay không thì cơ quan bảo hiểm là cơ quan chuyên môn sẽ có trách nhiệm trả lời đối với yêu cầu của bà H. Còn phía HTX không đóng bảo hiểm cho bà H là do bà H không có nguyện vọng tham gia bảo hiểm, hàng tháng bà H nhận đủ tiền lương, nên HTX không đóng bảo hiểm cho bà H. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T bác yêu cầu khởi kiện của bà H.

Đại diện cho Bảo hiểm xã hội huyện T là ông Nguyễn Phi Trường trình bày:

Căn cứ vào bảng T toán tiền lương của HTX dịch vụ nông nghiệp SD trả cho bà Nguyễn Thị H được trích từ nguồn thu phí dịch vụ của xã viên HTX, kinh phí cấp bù thủy lợi phí theo phê duyệt của phòng Tài chính và mức lương của bà H được hưởng hàng tháng thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ để làm căn cứ đóng bảo hiểm. Cụ thể: theo quy định của Chính Phủ, năm 2016 quy định mức lương tối thiểu vùng là 2.900.000đồng; năm 2017 quy định mức lương tối thiểu vùng là 3.090.000đồng; năm 2018 quy định mức lương tối thiểu vùng là 3.250.000đồng. Bà H năm 2016 lương được trả là 1.492.000đồng; năm 2017 lương được trả là 1.564.000đồng; năm 2018 lương được trả là 1.666.000đồng. Căn cứ vào nghị định của Chính Phủ thì bà H không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đối với 02 trường hợp đóng bảo hiểm của HTX dịch vụ nông nghiệp SD là ông T và bà Ngọc mà Bảo hiểm xã hội huyện T đã thu từ năm 2016. Bảo hiểm xã hội huyện T đã tiến hành rà soát lại và thấy rằng không thuộc trường hợp đóng hiểm nên đã cho dừng đóng từ năm 2019. Bảo hiểm xã hội huyện T đã có văn bản báo cáo Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Thọ để Bảo hiểm xã hội tỉnh xem xét quyết định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2020/LĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã:

Áp dụng khoản 1 Điều 123, khoản 2 Điều 125 Bộ luật lao động; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 592 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 41 Luật Hợp tác xã; khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24.10.2018 của Chính Phủ; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ngày 14.11.2016 của Chính Phủ; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 141/2017/NĐ-CP ngày 07.12.2017; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16.11.2018 của Chính Phủ; Điều 20 Điều lệ HTX dịch vụ nông nghiệp SD.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

[1] Xử: Hủy quyết định Cách chức - chức vụ - Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 về việc thu hồi quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định Cách chức - chức vụ

- Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD.

Buộc Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số ngày lương do mất chức vụ Phó giám đốc số tiền là: 10.279.000đồng (Mười triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và tiền bồi thường thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị H số tiền là: 5.960.000đồng (Năm triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng). Tổng số tiền Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H là 16.239.000đồng (Mười sáu triệu hai trăm ba mươi chín đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị H đề nghị Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD đóng bảo hiểm cho bà từ ngày 01/4/2016 đến nay.

[3] Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khôi phục lại chức vụ Phó giám đốc HTX dịch vụ Nông nghiệp SD và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD bồi thường tiền công bảo vệ trả thiếu từ năm 2017 và tiền công bảo vệ thực vật, dự tính, dự báo từ năm 2016 đến nay của bà Nguyễn Thị H.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 21 tháng 9 năm 2020, ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2020/LĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ. Không nhất trí toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD giữ nguyên đơn kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn có quan điểm lý do bà H vi phạm đã được đưa ra cuộc họp ngày 03/12/2019. Giám đốc HTX dich vụ và nông nghiệp SD căn cứ khoản 10 Điều 36 luật HTX cách chức Phó Giám đốc đối với bà H là đúng với Luật, điều lệ của HTX. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của bà H, sửa một phần Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T.

Nguyên đơn đề nghị bác đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm, với lý do:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án theo hướng không chấp nhận kháng cáo củ HTX dịch vụ nông nghiệp SD. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, lời trình bày của luật sư, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hình thức đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD làm trong luật định, đơn hợp lệ.

Xét về nội dung kháng cáo:

Xét về nội dung đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Kháng cáo của ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD là không có căn cứ, bởi lẽ: Theo như ông T thì trong thời gian bà Nguyễn Thị H được bổ nhiệm Phó Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ SD đã mắc 08 khuyết điểm như ông T đã trình bầy. Hội đồng quản trị HTX nông nghiệp SD căn cứ vào quy định của Luật - Điều lệ, quy chế, ngày 05/12/2019 ông T ban hành Quyết định số 06-QĐ-HĐQT cách chức Phó Giám đốc Hợp tác xã nhiệm kỳ 2016 - 2021 đối với bà Nguyễn Thị H. Do cán bộ kế toán văn phòng có sai sót trong việc soạn thảo văn bản nên ghi ngày 05/11/2019 khi ông ký đã không xem xét kỹ, đến ngày 08/12/2019, sau khi phát hiện sai sót thì đồng chí kế toán đã viết bản tường trình báo cáo HĐQT - HTX xem xét giải quyết. Căn cứ bản tường trình của đồng chí kế toán, HĐQT - HTX đã thống nhất ra Quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 thu hồi Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 thay thế Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019. Như vậy Quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 là không đúng về trình tự và thời gian. Đúng ra khi phát hiện sai sót trong việc ban hành Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 phải ra Quyết định thu hồi nhưng lại ban hành Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 mà cho đến ngày 08/12/2019 mới ban hành Quyết định thu hồi. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bà H chỉ nhận được Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 (để trên mặt bàn làm việc của bà H) và không biết Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 và Quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019, chỉ khi khởi kiện cấp sơ thẩm giải quyết mới biết Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 và Quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019. Đại diện cho HTX dịch vụ nông nghiệp SD cho rằng đã giao cho bà H Quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 và Quyết định thu hồi số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 nhưng không xuất trình dược chứng cứ về việc giao 02 Quyết định này cho bà H đã vi phạm tại khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24.10.2018 quy định trình tự xử lý kỷ luật lao động.

Về thẩm quyền ban hành Quyết định cách chức Phó Giám đốc HTX dịch vụ Nông nghiệp SD do ông Nguyễn Đức T- Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc ban hành là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Hội đồng quản trị trực tiếp mở phiên họp, nội dung biên bản cuộc họp là đúng nhưng lỗi của bà H chưa có căn cứ vi phạm tại điểm a, điểm b, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 24 Điều lệ của HTX dịch vụ nông nghiệp SD. Cấp sơ thẩm viện dẫn Quyết định cách chức không căn cứ khoản 1 Điều 41 Luật hợp tác xã là không chính xác cần được sửa lại điều luật áp dụng, do đó cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm

Như vậy Quyết định số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 thu hồi quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 và đồng thời thay bằng quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 của HTX dịch vụ nông nghiệp SD ban hành không đúng trình tự, thủ tục, vi phạm hình thức và trái quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền lợi của bà H. Do vậy Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD bồi thường tiền lương những ngày bà H mất chức vụ Phó giám đốc từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/6/2020 theo mức lương thực tế mà bà được hưởng 10.279.000đồng và bồi thường thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm với mức tương đương 4 tháng lương cơ bản với số tiền 5.960.000. Như vậy cấp sơ thẩm đã hủy Quyết định cách chức - chức vụ - Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 về việc thu hồi quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định Cách chức - chức vụ - Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD và buộc Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số ngày lương do mất chức vụ Phó giám đốc và tiền bồi thường thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị H như cấp sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Đề nghị của đại diện cho HTX dịch vụ nông nghiệp SD và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho HTX dịch vụ nông nghiệp SD không có cơ sở để chấp nhận.

Về quan điểm giải quyết vụ án mà Kiểm sát viên trình bầy tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

1. Xử: Bác kháng cáo của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD do ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật.

2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2020/LĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Áp dụng khoản 1 Điều 123, khoản 2 Điều 125 Bộ luật lao động; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 592 Bộ luật dân sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 24 và Điều 20 Điều lệ của Hợp tác xã dịch cụ nông nghiệp SD; khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24.10.2018 của Chính Phủ; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ngày 14.11.2016 của Chính Phủ; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 141/2017/NĐ-CP ngày 07.12.2017; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 157/2018/NĐ-CP ngày 16.11.2018 của Chính Phủ;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

[1] Xử: Hủy quyết định Cách chức - chức vụ - Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định số 07/QĐ-HĐQT ngày 08/12/2019 về việc thu hồi quyết định số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/11/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD. Hủy quyết định Cách chức - chức vụ

- Phó giám đốc nhiệm kỳ 2016 - 2021 số 06-QĐ-HĐQT ngày 05/12/2019 của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD.

Buộc Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số ngày lương do mất chức vụ Phó giám đốc số tiền là: 10.279.000đồng (Mười triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và tiền bồi thường thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị H số tiền là: 5.960.000đồng (Năm triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng). Tổng số tiền Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị H là 16.239.000đồng (Mười sáu triệu hai trăm ba mươi chín đồng).

Kể từ ngày Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị H đề nghị Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp SD đóng bảo hiểm cho bà từ ngày 01/4/2016 đến nay.

[3] Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khôi phục lại chức vụ Phó giám đốc hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD bồi thường tiền công bảo vệ trả thiếu từ năm 2017 và tiền công bảo vệ thực vật, dự tính, dự báo từ năm 2016 đến nay của bà Nguyễn Thị H.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn

đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm không có giá ngạch và 811.900đồng (Tám trăm mười một nghìn chín trăm đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm có giá ngạch. Tổng số tiền án phí Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD phải chịu là 1.111.900đồng (Một triệu một trăm mười một nghìn chín trăm đồng);

3.Về án phí phúc thẩm: Hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp SD phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động phúc thẩm. Xác nhận ông ông Nguyễn Đức Tlà người đại diện theo pháp luật Hợp tác xã dịch vụ SD đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001837 do Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Thọ lập ngày 28/9/2020.

"Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành./.

Cỡ chữ