- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua — án kinh doanh thương mại — "Công ty TN - Bà Ngô Thị Mai H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Ngô Thị Mai H; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020, của Toà án nhân dân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/KDTM-PT Ngày: 15-01-2021 V/v “Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản” |
NHÂN DANH
VIỆT
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
NAM
Độc lập
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Tự do
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Hạnh
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Vũ.
phúc
Các thẩm phán:
1. Ông Phạm Văn Diệp;
2. Ông Phạm Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Th Thị Thúy Vân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm - i m sát viên.
Trong các ngày 11 và 15 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2020/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp về Hợp đồng thuê tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020, của Toà án nhân dân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 347/2020/QĐ-PT ngày 21 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TN; địa chỉ: khu phố B, phường B1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Anh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp:
- Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1961 - Chức vụ: Giám đốc Công ty (theo Văn bản ủy quyền số: 56/2019/GUQ-TN không ghi ngày, tháng 11 năm 2019).
- Anh Nguyễn Hiếu Th1, sinh năm 1994 - Chức vụ: Chuyên viên Công ty (theo Văn bản ủy quyền ngày 14-7-2020); ông Th, anh Th1có mặt.
2. Bị đơn: Bà Ngô Thị Mai H, sinh năm 1982; cư trú tại: phường LH, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh; ngày 11-01- 2021 bà H có mặt; ngày 15-01- 2021 bà H vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà H: Chị Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 1990; cư trú tại: phường LTB, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 24-9-2020); ngày 11-01- 2021 chị L có mặt; ngày 15-01- 2021 chị L vắng mặt.
Người kháng cáo: Bà Ngô Thị Mai H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02-12-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Công ty TN ông Nguyễn Văn Th và anh Nguyễn Hiếu Th1 trình bày: Ngày 27-10-2014, bà Ngô Thị Mai H đã ký hợp đồng thuê sạp với Công ty TN (viết Công ty) thông qua Ban quản lý B.O.T Trung tâm thương mại LH, đ thuê 05 sạp gồm: T020, T036, T054, T118, T162 đ kinh doanh giày, dép; thời gian thuê là 02 năm tính từ ngày 01-11-2014 đến hết ngày 31-10-2016, giá thuê sạp T020 là 9.100.000 đồng/năm, 02 năm 18.200.000 đồng; giá thuê sạp T036 là 9.900.000 đồng/năm, 02 năm 19.800.000 đồng; giá thuê sạp T054 là 8.700.000 đồng/năm, 02 năm 17.400.000 đồng; giá thuê sạp T118 là 7.600.000 đồng/năm, 02 năm 15.200.000 đồng; giá thuê sạp T162 là 8.400.000 đồng/năm, 02 năm 16.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền thuê sạp 87.400.000 đồng bà H trả xong cho Công ty.
Sau khi hết hạn hợp đồng thuê sạp giai đoạn từ năm 2014 - 2016, bà H không ký lại hợp đồng thuê sạp giai đoạn năm 2016-2018, nhưng bà H vẫn quản lý, sử dụng 05 sạp trên đ kinh doanh mà không đóng tiền thuê cho Công ty. Do Công ty phải chi phí tăng cho hoạt động kinh doanh, nên cần điều chỉnh tăng giá thuê sạp cho phù hợp, nhưng các ti u thương có đơn yêu cầu Công ty giảm giá, Công ty có văn bản xin ý kiến và được Ủy ban nhân dân huyện HT (nay là thị xã HT), tỉnh Tây Ninh đồng ý cho Công ty được tăng giá thuê theo Công văn số: 530/UBND, ngày 02-10-2014 từ 12% đến 20%, cộng 300.000 đồng chi phí phụ thu khác, nhưng thực tế Công ty tăng giá thuê sạp không vượt quá 12%.
Công ty rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với bà H về việc di chuy n hàng hóa ra khỏi Trung tâm thương mại LH, trả lại mặt bằng tại vị trí kinh doanh T020, T036, T054, T118, T162. Nay Công ty chỉ yêu cầu bà H phải trả tiền thuê sạp 96.840.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 30-10-2016 đến khi xét xử sơ thẩm là 28.277.280 đồng.
Bị đơn - bà Ngô Thị Mai H trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của Công ty về việc hai bên đã ký kết hợp đồng thuê sạp giai đoạn năm 2014 - 2016. Việc thuê mặt bằng Trung tâm thương mại LH đ kinh doanh là phương tiện sinh sống của các ti u thương, do đó bà có nhu cầu tiếp tục thuê mặt bằng đ kinh doanh. Tại thời đi m ký lại hợp đồng giai đoạn năm 2016-2018 bà có làm đơn xin giảm tiền thuê mặt bằng gửi đến Công ty và Ủy ban nhân dân huyện HT, Công ty chưa có ý kiến về việc giảm giá, Ủy ban nhân dân huyện HT khi đối thoại có đề nghị Công ty và các ti u thương thương lượng về giá tăng, giảm cho cụ th . Các ti u thương, trong đó có bà đề nghị Công ty giảm 30% giá thuê theo bảng giá Công ty đã niêm yết.
Việc đề nghị Công ty giảm giá là theo giá thuê mặt bằng các sạp giai đoạn năm 2014-2016, các ti u thương đã kinh doanh không hiệu quả do chi phí cao, thua lỗ, chợ bán ế do vắng khách hàng, nên giai đoạn năm 2016 – 2018, các ti u thương yêu cầu Công ty giảm giá thuê 30%. Tháng 5-2018, Công ty TN và Ủy ban nhân dân huyện HT đã thanh lý khu A-B theo Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản công giữa bên giao là Công ty phải giao lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân huyện HT, tỉnh Tây Ninh.
Bà không đồng ý trả tiền thuê các sạp dù Công ty cho bà trả tiền thuê theo giá hợp đồng giai đoạn năm 2014-2016, vì cuối năm 2016 Công ty thông báo tháo dỡ công trình nên bà không kinh doanh mua bán hàng hóa, mà chỉ sử dụng làm nơi cất giữ hàng hóa, không có thu nhập đ trả tiền thuê cho Công ty.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020, của Toà án nhân dân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ Điều 472, 473, 468, 481, 482 Bộ luật dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TN đối với bà Ngô Thị Mai H.
Buộc bà Ngô Thị Mai H có nghĩa vụ trả cho Công ty TN số tiền thuê còn nợ là 103.915.395 đồng, trong đó tiền thuê là 87.400.000 đồng, tiền lãi là 16.515.395 đồng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu bà Ngô Thị Mai H thực hiện di chuy n hàng hóa ra khỏi Trung tâm thương mại LH và hoàn trả lại mặt bằng tại vị trí kinh doanh T020, T036, T054, T118, T162.
Công ty TN có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05-10-2020, bà Ngô Thị Mai H kháng cáo cho rằng giữa bà và Công ty khi ký kết hợp đồng thuê mặt bằng sạp không có sự tự nguyện thỏa thuận, mà bị lừa, ép buộc ký, nên bà yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số 41/2020/DS-ST ngày 24-9-2020 và hủy Công văn số: 530/UBND, ngày 02-10-2014 của Ủy ban nhân dân huyện HT, tỉnh Tây Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Th, anh Th1đại diện cho Công ty yêu cầu bà H trả tiền thuê sạp cho Công ty theo giá thuê của giai đoạn năm 2014 – 2016 là 87.400.000 đồng và tiền lãi trên số tiền thuê sạp là 16.515.395 đồng. Công ty rút lại phần yêu cầu bà H trả lại mặt bằng các sạp T020, T036, T054, T118, T162.
Tại phiên tòa bà H, chị L là người đại diện hợp pháp cho bà H cho rằng, mặt bằng tại các sạp T020, T036, T054, T118, T162 là phương tiện đ kinh doanh sinh sống, nên bà H có nhu cầu tiếp tục thuê đ kinh doanh, nhưng Công ty phải giảm giá thuê 30% thì bà mới đồng ý ký lại hợp đồng; đối với Công ty yêu cầu trả tiền thuê sạp giai đoạn năm 2016 – 2018, bà H đồng ý trả nhưng đ tính chiếc khấu trên số tiền thuê từng sạp của thời gian từng năm mới biết số tiền trả cho Công ty.
Tại phiên tòa ngày 15-01-2021 bà H, chị L vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; ngày 11-01-2021, bà H, chị L có mặt tham dự phiên tòa; ngày 15-01-2021 bà H, chị L vắng mặt.
- Về nội dung: Sau khi hết hạn hợp đồng thuê sạp giai đoạn năm 2014 – 2016, bà H vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng mặt bằng các sạp thuê trước đây đ kinh doanh, nhưng không trả tiền gây thiệt hại cho Công ty, nên Công ty khởi kiện yêu cầu bà H bồi thường thiệt hại trên số tiền 87.400.000 đồng theo hợp đồng thuê giai đoạn năm 2014 – 2016 là có cơ sở; Công ty hoạt động trong lĩnh vực BOT, bà H là ti u thương hoạt động kinh doanh, tất cả đều vì mục đích lợi nhuận, nên tranh chấp về kinh doanh thương mại, về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; không phải tranh chấp dân sự như cấp sơ thẩm xác định; không chấp nhận Công ty yêu cầu bà H trả tiền lãi 16.515.395 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quyền khởi kiện: Ngày 27-10-2014, bà Ngô Thị Mai H ký hợp đồng với Công ty TN (viết Công ty) thông qua Ban quản lý B.O.T Trung tâm thương mại LH, đ thuê 05 sạp gồm: T020, T036, T054, T118, T162 đ kinh doanh giày, dép; thời gian thuê 02 năm tính từ ngày 01-11-2014 đến ngày 31-10-2016, số tiền thuê tổng cộng 87.400.000 đồng bà H trả xong. Hết hạn hợp đồng thuê sạp giai đoạn năm 2014 - 2016, bà H không ký lại hợp đồng thuê nhưng vẫn quản lý, sử dụng đ kinh doanh 05 sạp trên, do đó Công ty khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bà H trả tiền thuê sạp cho Công ty giai đoạn năm 2016 – 2018 theo giá thuê sạp giai đoạn năm 2014 – 2016 là có căn cứ.
Công ty được Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đ thực hiện dự án Trung tâm thương mại LH theo hình thức BOT; bà Ngô Thị Mai H là ti u thương kinh giày, dép tại khu A-B Trung tâm thương mại LH, hoạt động vì mục đích lợi nhuận; giữa Công ty và bà H xảy ra tranh chấp về hợp đồng thuê các sạp tại Trung tâm thương mại LH, đây là quan hệ tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp về dân sự theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự là sai.
Tranh chấp giữa Công ty và bà H là tranh chấp về Hợp đồng thuê tài sản, vì đến thời đi m Tòa án xét xử bà H vẫn có yêu cầu thuê mặt bằng các sạp tại khu A-B Trung tâm thương mại LH đ kinh doanh; tại phiên tòa phúc thẩm, bà H đồng ý trả tiền thuê các sạp, nhưng không phải trả số tiền theo Công ty yêu cầu.
Sau khi hết thời hạn hợp đồng thuê sạp, một số hộ ti u thương không ký lại hợp đồng, Công ty có biên bản làm việc, các hộ ti u thương đều có nguyện vọng tiếp tục thuê sạp đ kinh doanh, nhưng đề nghị Công ty giảm 30% giá tiền thuê sạp so với giai đoạn năm 2014 – 2016, trong đó có bà H. Việc đề nghị của các ti u thương, Công ty có nhiều văn bản gửi Ủy ban nhân huyện HT (nay là thị xã HT), tỉnh Tây Ninh đ báo cáo và xin ý kiến; ngày 30-10-2019 Ủy ban nhân huyện HT chủ trì cuộc đối thoại với 166/267 hộ ti u thương tại khu A-B, Trung tâm thương mại LH có sự tham gia của các sở, ngành tỉnh; phòng, ban của huyện và đại diện Công ty đ ghi nhận ý kiến các hộ ti u thương; ngày 03-8-2020, Ủy ban nhân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh ban hành Công văn số: 841/UBND phúc đáp cho Tòa án nhân dân thị xã HT, có nội dung: …tại biên bản bàn giao tài sản khu A-B ngày 10/5/2018 giữa Công ty Xây dựng và Phát tri n Đô thị Tây Ninh với Ủy ban nhân dân huyện HT ghi rõ: “Trong thời gian Ủy ban nhân dân huyện HT lập thủ tục, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương và đến khi đấu giá thành theo quy định thì nhà đầu tư có trách nhiệm tiếp tục quản lý tài sản khu A-B. Do đó, hiện nay mặt bằng khu A-B do Công ty TN quản lý theo hợp đồng BOT; nếu tiểu thương chợ LH trả lại mặt bằng thì trả cho Công ty TN. Hiện nay Công ty TN đang quản lý khu A-B, việc thu hay không thu tiền cho thuê mặt bằng kinh doanh thực hiện theo hợp đồng thuê mặt bằng giữa tiểu thương và Công ty TN”. Do vậy, việc bà H sử dụng mặt bằng các sạp tại khu A-B đ kinh doanh phải có nghĩa vụ trả tiền thuê cho Công ty, vì đến tại thời đi m xét xử sơ thẩm mặt bằng khu A-B Trung tâm thương mại LH là tài sản Ủy ban nhân thị xã HT đã giao cho Công ty quản lý.
Từ ngày 01-11-2016 đến ngày 31-10-2018, bà H tiếp tục sử dụng các sạp các sạp đã trước đó đ kinh doanh, nhưng không đồng ý ký lại hợp đồng, không trả tiền thuê sạp đã gây thiệt hại cho Công ty, do đó bà H phải trả tiền thuê các sạp trên cơ sở hợp đồng thuê giai đoạn năm 2014 – 2016. Tại phiên tòa sơ, phúc thẩm, Công ty yêu cầu bà H trả tiền sử dụng mặt bằng các sạp là 87.400.000 đồng theo giá hợp đồng thuê giai đoạn năm 2014-2016, là tự nguyện nên ghi nhận. Theo đơn khởi kiện ngày 02-12-2019, Công ty yêu cầu bà H trả tiền thuê sạp 96.840.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm Công ty rút lại một phần yêu cầu đối với số tiền 9.440.000 đồng, nhưng cấp sơ thẩm không đình chỉ đối với phần yêu cầu Công ty đã rút là sai sót, cần rút kinh nghiệm.
Xét yêu cầu tiền lãi của Công ty đối với bà H số tiền 16.515.395 đồng tính trên số tiền 87.400.000 đồng do chậm trả tiền thuê sạp thấy rằng, sau khi hết thời hạn hợp đồng giai đoạn năm 2014-2016 giữa Công ty và bà H không ký lại được hợp đồng, do không thỏa thuận được giá cho thuê, Công ty ra ra văn bản thông báo yêu cầu các hộ ti u thương ký lại hợp đồng thuê, không có chứng cứ nào th hiện Công ty yêu cầu bà H trả tiền sử dụng mặt bằng nhưng bà H không trả, tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty cũng không cung cấp được chứng cứ đ chứng minh cho yêu cầu này, nên không có cơ sở chấp nhận phần tiền lãi 16.515.395 đồng Công ty yêu cầu bà H trả.
Đình chỉ rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty về việc buộc bà H chuy n hàng hóa ra khỏi Trung tâm thương mại LH trả lại mặt bằng vị trí kinh doanh T020, T036, T054, T118, T162.
Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới đ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận; sửa bản án sơ thẩm.
Bà H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ đi m b khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 6, 7 và các Điều 269, 270, 271, 302, 306 Luật Thương mại; các Điều 147, 148, 217 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Ngô Thị Mai H; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2020/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2020, của Toà án nhân dân thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TN đối với bà Ngô Thị Mai H.
2.1. Buộc bà Ngô Thị Mai H trả cho Công ty TN số tiền 87.400.000 đồng (tám mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
từ ngày Công ty TN có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2.2. hông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TN yêu cầu bà Ngô Thị Mai H trả tiền lãi 16.515.395 đồng (mười sáu triệu, năm trăm mười lăm nghìn, ba trăm chín mươi lăm đồng).
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TN về việc buộc bà Ngô Thị Mai H trả số tiền 9.440.000 đồng (chín triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) và chuy n hàng hóa ra khỏi Trung tâm thương mại LH trả lại mặt bằng tại các sạp T020, T036, T054, T118, T162.
Công ty TN có quyền khởi kiện lại phần yêu cầu đã rút theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
4.1. Bà Ngô Thị Mai H phải chịu 4.370.000 đồng (bốn triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
4.2. Công ty TN phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 3.128.000 đồng (ba triệu, một trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008283 ngày 11-12-2019 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã HT, tỉnh Tây Ninh; Công ty TN được hoàn trả lại số tiền chênh lệch 128.000 đồng (một trăm hai mươi tám nghìn đồng).
5. Về án phí phúc thẩm: Bà Ngô Thị Mai H không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; hoàn trả cho bà H 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009187 ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV.TAT; - TAND thị xã HT; - CCTHADS thị xã HT; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Quốc Vũ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Vũ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Vũ |