- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu L và Hoàng Thanh S Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày 14-01-2021 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và bà Nguyễn Thị Di.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 408/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1998, vắng mặt.
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Hoàng Thanh S, sinh năm 1993, vắng mặt.
Hộ khẩu thường trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Chỗ ở hiện nay: Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu L trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu L và ông Hoàng Thanh S tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2016, đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có tổ chức đám cưới. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến dẫn đến cãi nhau nhiều lần. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2019 đến nay, không ai quan tâm đến ai, mặc ai nấy sống. Nay bà L nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông S được nữa. Vì vậy bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà L và ông S có 01 người con chung là Hoàng Phú T, sinh ngày 13/01/2017. Cháu Trọng hiện nay đang ở với bà L. Bà L yêu cầu được nuôi cháu Trọng cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Hoàng Thanh S trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu L và ông Hoàng Thanh S đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến. Nay bà L yêu cầu ly hôn thì ông S đồng ý.
Về con chung: Bà L và ông S có 01 người con chung là Hoàng Phú T, sinh ngày 13/01/2017. Ông S đồng ý giao cháu Trọng cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay ông S đang cai nghiện tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà L giao con chung là cháu Hoàng Phú T cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và ông S không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông S không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông S tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông S là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân từ tháng 3/2019 đến nay. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông S và bà L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.
Về con chung: Bà L và ông S xác nhận có 01 người con chung là Hoàng Phú T, sinh ngày 13/01/2017. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Trọng, ông S đồng ý giao cháu Trọng cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng nên chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cháu Trọng cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con và ông S không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông S không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu L được ly hôn ông Hoàng Thanh S.
- Về con chung: Giao con chung là Hoàng Phú T, sinh ngày 13/01/2017 cho bà Nguyễn Thị Thu L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông Hoàng Thanh S không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị Thu L không yêu cầu.
Ông Hoàng Thanh S được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông S không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị Thu L phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 04131 ngày 31/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà L đã nộp xong.
3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/01/2021) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Nguyễn Thị Di
Đỗ Hữu Trí
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - Các đương sự; - UBND thị trấn Long Hải, huyện Long Điền; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Trí |