- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T cùng đồng phạm, phạm tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HS-ST Ngày 21-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Biểu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phước Phi.
Ông Đặng Như Huy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại: Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 12/7/2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 03/2021/TB-TA ngày 17/9/2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Văn T. Tên gọi khác: Tư Ếch. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/10/1991, tại: Huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu phố Định Thiền, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Bùi Văn B, sinh năm 1962 (đã chết); Họ tên mẹ: Tô Thị Th, sinh năm 1969 (đã chết). Họ và tên vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Nhân thân: Vào ngày 05/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tuyên phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 26/2013/HSST; ngày 23/12/2019 bị Công an huyện Vĩnh Thạnh ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo Bùi Văn T đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị L. Tên gọi khác: Dư D. Giới tính: Nữ. Sinh ngày: 14/10/1943, tại: Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Họ tên cha: Nguyễn B (chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T (chết). Họ và tên chồng: Trần Tr, sinh năm 1942 (chết). Con: Có 5 người con, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án: Không. Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Nhân thân: Vào ngày 23/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt bổ sung hình phạt tiền 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 11/2014/HSST; tháng 02/2020 bị Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Thị L đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Thị Nh. Tên gọi khác: Chín D. Giới tính: Nữ. Sinh ngày: 20/04/1959, tại: Huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 05/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn A (chết). Họ tên mẹ: Lê Thị H. Họ và tên chồng: Lê Văn D, sinh năm 1955. Con: Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1987. Tiền án/Tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Thị Nh đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Trương Thị Nguyệt L. Tên gọi khác: Bốn T. Giới tính: Nữ. Sinh ngày: 19/7/1959, tại: Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Họ tên cha: Trương Đình Th (đã chết). Họ tên mẹ: Trần Thị H (đã chết). Họ và tên chồng: Lê Đình T, sinh năm 1951 (đã chết). Con: Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1989. Tiền án/Tiền sự: Không. Bị cáo Trương Thị Nguyệt L đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Ngọc M. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/5/1993, tại: Huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Thôn Vĩnh Thọ, xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn S, sinh năm 1960. Họ tên mẹ: Trần Thị Th, sinh năm 1960. Gia đình có 05 anh, chị, em, bị cáo là con út trong gia đình. Tiền án/Tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Ngọc M đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Nguyễn Minh H. Tên gọi khác: Không. Giới tính: nam. Sinh ngày: 01/11/1987, tại: Huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Họ tên cha: Nguyễn L, sinh năm 1961. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1961. Họ và tên vợ: Võ Thị Tr, sinh năm 1988. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án/Tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Minh H đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Huỳnh Văn Th. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày: 27/3/1983, tại: Huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Thôn Định Trị, xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Họ tên cha: Huỳnh Đ, sinh năm 1931 (đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1936 (đã chết). Họ và tên vợ: Trương Thị Mỹ Tr, sinh năm 1984. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án/Tiền sự: Không. Nhân thân: Vào ngày 06/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tuyên phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 03/2015/HSST. Bị cáo Huỳnh Văn Th đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/10/2020 đến nay – có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn Th: Bà Nguyễn Thị Hồng Th– trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bình Định – có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa liên quan:
(1). Anh Võ Trung Th; sinh năm: 1984; Địa chỉ: Khu phố Định Tố, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.
(2). Anh Phạm Công D; sinh năm: 1986; Địa chỉ: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
(3). Anh Trần Công H; sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn Vĩnh Trường, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
(4). Anh Nguyễn Thanh Nh; sinh năm: 1990; Địa chỉ: Khu phố Định Tân, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
(5). Anh Đặng Xuân Q; sinh năm: 1985; Địa chỉ: Khu phố Định Thiền, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.
(6). Anh Lê Quốc T; sinh năm: 1990; Địa chỉ: Khu phố Định Thiền, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.
(7). Chị Nguyễn Thị S; sinh năm: 1985; Địa chỉ: Khu phố Định Tố, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.
(8). Anh Lâm Hồng L; sinh năm: 1994; Địa chỉ: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
(9). Chị Nguyễn Thị Minh Ng; sinh năm: 1985; Địa chỉ: Khu phố Định Bình, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.
(10). Chị Đặng Thị Bích Tr; sinh năm: 1990; Địa chỉ: Thôn Vĩnh Thọ, xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 28/9/2020, Bùi Văn T gọi điện thoại cho Võ Trung Th với nội dung “Anh đang ở đâu vậy” thì Th trả lời “Anh đang ở quán cà phê”, T nói tiếp “Nhà anh chơi được không cho em mượn để chơi một bữa” thì Th hiểu là T muốn đến nhà Th để tổ chức đánh bạc thì được Th đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 55B6 – 2118 đến nhà Th tại khu phố Định Tố, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Nh điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thị L, Trương Thị Nguyệt L điều khiển xe mô tô đến nhà Th. Tại đây, thấy có Nh, L và L nên T lấy bộ dụng cụ dùng đánh bầu cua đã chuẩn bị sẵn từ trước đặt trên nền nhà phòng khách rồi T trực tiếp cầm cái xốc bầu cua để L, Nh, L đặt tiền và giao ước tối đa 01 cửa cao nhất là 300.000 đồng.
Sau đó, lần lượt có Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H mỗi người tự điều khiển xe mô tô, Lê Quốc T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thanh Nh, Huỳnh Văn Th, Trần Công H, Phạm Công D, Đặng Xuân Q mỗi người tự điều khiển xe mô tô đến nhà Thành để đánh bạc.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện Vĩnh Thạnh kiểm tra, bắt quả tang được 11 đối tượng là Võ Trung Th, Nguyễn Ngọc M, Huỳnh Văn Th, Nguyễn Minh H, Phạm Công D, Đặng Xuân Q, Nguyễn Thanh Nh, Lê Quốc T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, các đối tượng còn lại chạy thoát, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 2.600.000 đồng; 1.00.000 đồng giấu sau bao lúa; 750.000 đồng gần cửa chính ra vào; 22.233.000 đồng trên người các đối tượng; 13 điện thoại di động các loại; một ví da màu đen bên trong có một giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 240963 mang tên Nguyễn Văn H, một CMND mang tên Bùi Văn T và số tiền 32.176.000 đồng, 01 tờ tiền 100 đồng, 02 tờ tiền 2USD, 01 tờ tiền 1MYR (Malaysia); 10 xe mô tô và tiến hành lập biên bản theo quy định.
Đối tượng chạy trốn Bùi Văn T sau đó đã đến Công an huyện Vĩnh Thạnh đầu thú.
Hình thức đánh bạc bằng cách: Người cầm cái sử dụng một bộ thau – đĩa nhôm đậy kín, bên trong có 03 hột lập phương sáu mặt làm bằng xốp, mỗi hột hình lập phương có dáng hình 06 con vật: Tôm, cua, bầu, cá, gà, nai và một bàn bầu cua làm bằng cái bao bên ngoài có bọc ni lông, trên bao có dáng hình 06 con vật tương ứng như trên. Nhà cái cầm bộ thau được đậy kín lắc cho 03 hột bên trong nhảy lộn xộn rồi đặt xuống đất; các con bạc tiến hành đặt tiền vào các con vật tùy ý trên bàn bầu cua. Sau đó, nhà cái mở nắp thau ra nếu mặt trên cùng của 03 hột trong thau có hình con vật phù hợp với hình con vật mà các con bạc đặt thì nhà cái chung tiền và ngược lại. Nếu có 02 - 03 con vật giống nhau thì nhà cái chung tiền gấp 02 - 03 lần so với tiền con bạc đã đặt. Ngoài ra, có một số con bạc dùng tiền của con bạc khác đã đặt để đánh qua con vật khác (gọi là “tả”), cách thức chung tiền giống như nhà cái.
Quá trình điều tra có đủ chứng cứ chứng minh số tiền các con bạc đã dùng và sẽ dùng vào việc đánh bạc là 13.888.000 đồng, trong đó, Bùi Văn T sử dụng số tiền 3.800.000 đồng; Nguyễn Thị L sử dụng số tiền 4.200.000 đồng; Nguyễn Thị Nh sử dụng số tiền 900.000 đồng; Trương Thị Nguyệt L sử dụng số tiền 120.000 đồng; Nguyễn Ngọc M sử dụng số tiền 420.000 đồng; Nguyễn Minh H sử dụng số tiền 1.398.000 đồng; Huỳnh Văn Th sử dụng số tiền 500.000 đồng, còn lại 2.550.000 đồng là của các con bạc trong quá trình bỏ chạy để lại tại chiếu bạc.
(Bút lục số: 01-08; 192-213; 234-247; 261-274; 279-282; 305-312; 328-331; 356-369; 387-400).
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Nh, L, M, H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nguyễn Thị L được hưởng tình người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên. Ngoài ra, sau khi chạy trốn Bùi Văn T đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Thạnh để đầu thú.
Về vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh đã tiến hành lập biên bản tạm giữ:
- 01 (một) thau nhôm và 01 (một) đĩa nhôm;
- 03 (ba) hột bầu cua có 06 (sáu) mặt in hình các con vật: Tôm – cua – bầu – cá – gà – nai đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái bao màu xanh có dán hình các con vật: Tôm – cua – bầu – cá – gà – nai;
- 06 (sáu) xe mô tô các loại, gồm: Xe Sirius 77K1 - 088.53 (do Huỳnh Văn Th điều khiển), xe Chaly biển số 77AN - 000.94 (do Nguyễn Thị Nh điều khiển), xe Exeiter biển số 77N1 - 065.28 (do Nguyễn Minh H điều khiển), xe Wave độ chế biển số 55B6 – 2118 (do Bùi Văn T điều khiển), xe Air Blade biển số 77N1 - 015.47 (do Nguyễn Ngọc M điều khiển), xe Click biển số 77N7 – 0225 (do bà Trương Thị Nguyệt L điều khiển).
- Tạm giữ số tiền 10.283.000 đồng trong tài khoản tạm giữ của Công an huyện mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Vĩnh Thạnh là số tiền thu được tại chiếu bạc và trên người các con bạc chứng minh được sẽ dùng vào việc đánh bạc.
- Ngoài ra còn tạm giữ số tiền 51.476.000 đồng; xe Air Blade biển số 77N1- 014.68 (do Đặng Xuân Q điều khiển), xe Wave biển số 81T1 – 3670 (do Trần Công H điều khiển), xe Sirius 75C1 - 056.89 (do Phạm Công D điều khiển), xe Suzuki biển số 81B2 – 68322 (do Lê Quốc T điều khiển); 12 (mười hai) điện thoại di động các loại.
(Bút lục số: 01-08; 125-132)
Quá trình điều tra, chứng minh được các xe mô tô, tiền và các tài liệu, giấy tờ khác không sử dụng vào việc đánh bạc, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản nêu trên như sau:
- 01 xe mô tô biển số 81B2 – 68322, loại xe Suzuki; 01 điện thoại di động Iphone màu bạc và 01 cái ví da bên trong có 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 240963 mang tên Nguyễn Văn H, một CMND mang tên Bùi Văn T và số tiền 29.176.000 đồng, 01 tờ tiền 100 đồng và một số tờ tiền nước ngoài cho Bùi Văn T;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, 01 ví da màu đen, số tiền 13.611.000 đồng, 01 thẻ ATM mang tên Lê Quốc T, 01 CMND mang tên Lê Quốc T, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 000247, 01 giấy phép lái xe hạng A1 và một số tờ tiền nước ngoài cho Lê Quốc T;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và số tiền 1.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Nh;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và số tiền 3.620.000 đồng cho bà Trương Thị Nguyệt L;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen và 01 cái ví da màu đen có chứa số tiền 55.000 đồng, 01 CMND mang tên Huỳnh Văn Th và 01 tờ tiền 2USD cho Huỳnh Văn Th;
- 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, 01 CMND mang tên Nguyễn Minh H, 01 ví da màu nâu và 01 tờ tiền 2USD cho Nguyễn Minh H;
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen và số tiền 1.000.000 đồng cho Nguyễn Thanh Nh;
- 01 xe mô tô biển số 75C1 - 056.89, loại xe Sirius; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, 01 ví da màu nâu bên trong có chứa số tiền 1.864.000 đồng, 01 thẻ ATM mang tên Phạm Công D;
- 01 xe mô tô biển số 77N1- 014.68, loại xe Air Blade; 01 điện thoại di động hiệu VIVO loại cảm ứng màu đen, số tiền 1.150.000 đồng cho Đặng Xuân Q;
- 01 điện thoại di động Iphone màu vàng cho Nguyễn Ngọc M;
- 01 xe mô tô biển số 81T1 - 3670, loại xe Wave cho Trần Công H.
(Bút lục số: 133; 551-561)
Về vấn đề bồi thường dân sự: Không.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSVT ngày 27 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, truy tố các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự:
- Đề nghị tuyên các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 15.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; các điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 09 – 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Huỳnh Văn Th mức án từ 06 – 09 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
Ý kiến của các bị cáo: Thống nhất theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015,
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.283.000 đồng (Mười triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn đồng) (Số tiền trên được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định theo giấy nộp tiền của ông Trần Ngọc Th nộp vào tài khoản số tài khoản 39490100766400000 ngày 07/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
Tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) thau nhôm và 01 (một) đĩa nhôm; 03 (ba) hột bầu cua có 06 (sáu) mặt in hình các con vật: Tôm – cua – bầu – cá – gà – nai đã qua sử dụng; 01 (một) cái bao màu xanh có dán hình các con vật: tôm – cua – bầu – cá – gà – nai.
Tuyên trả cho Huỳnh Văn Th xe mô tô Sirius mang 77K1 - 088.53; cho Nguyễn Thị Nh xe mô tô Chaly biển số 77AN - 000.94; cho Nguyễn Minh H xe mô tô Exeiter biển số 77N1 - 065.28; cho Bùi Văn T xe mô tô Wave độ chế biển số 55B6 – 2118; cho Nguyễn Ngọc M xe mô tô Air Blade biển số 77N1 - 015.47; cho Trương Thị Nguyệt L xe mô tô Click biển số 77N7 – 0225.
(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
\
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo và tội danh:
Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th đã khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 28/9/2020, tại nhà Võ Trung Th ở khu phố Định Tố, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, các bị cáo T, L, Nh, L, M, H, Th đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức xốc bầu cua ăn thua bằng tiền mặt, do bị cáo T trực tiếp cầm cái với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 13.888.000 đồng. Trong đó, Bùi Văn T sử dụng số tiền 3.800.000 đồng; Nguyễn Thị L sử dụng số tiền 4.200.000 đồng; Nguyễn Thị Nh sử dụng số tiền 900.000 đồng; Trương Thị Nguyệt L sử dụng số tiền 120.000 đồng; Nguyễn Ngọc M sử dụng số tiền 420.000 đồng; Nguyễn Minh H sử dụng số tiền 1.398.000 đồng; Huỳnh Văn Th sử dụng số tiền 500.000 đồng, còn lại 2.550.000 đồng là của các con bạc trong quá trình bỏ chạy để lại tại chiếu bạc. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì “máu” lòng tham, tư lợi nên các bị cáo đã cố tình thực hiện. Hành vi đánh bạc bằng hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn công cộng tại địa phương, đánh bạc còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, trong đó làm không ít gia đình hạnh phúc bị đổ vỡ.
Hành vi của các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Như vậy, Bản Cáo trạng số 13/CT-VKSVT ngày 27/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh truy tố các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Các bị cáo Nh, L, M, H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Riêng bị cáo Nguyễn Thị L được hưởng tình tiết người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Ngoài ra, bị cáo T còn hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) cụ thể như sau: Vào ngày 16/12/2020 bị cáo T đã tích cực cùng lực lượng chức năng Công an xã Vĩnh Quang mai phục và truy bắt các đối tượng trộm chó trên địa bàn xã Vĩnh Quang (có xác nhận của Công an xã Vĩnh Quang ngày 16/12/2021). Tiếp đó, vào ngày 17/12/2020 bị cáo T đã nhặt được của rơi (số tiền 11.050.000 đồng) và đã trình báo Công an thị trấn Vĩnh Thạnh và tiến hành giao trả cho người bị mất (có xác nhận của Công an thị trấn Vĩnh Thạnh vào ngày 17/12/2020); Sau khi phạm tội bị cáo T đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Thạnh để đầu thú, bị cáo Tư là lao động chính trong gia đình có hai con nhỏ (con thứ nhất 4 tuổi, con thứ hai 02 tuổi). Do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho từng bị cáo tương ứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Về nhân thân:
Bị cáo Bùi Văn T: Vào ngày 05/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tuyên phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 26/2013/HSST; ngày 23/12/2019 bị Công an huyện Vĩnh Thạnh ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo Nguyễn Thị L: Vào ngày 23/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt bổ sung hình phạt tiền 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 11/2014/HSST; tháng 02/2020 bị Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo Huỳnh Văn Th: Vào ngày 06/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tuyên phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 03/2015/HSST.
. Xét thấy các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, làm việc ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với đối với các bị cáo là đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho người khác.
Trong vụ án này, trừ bị cáo Nguyễn Thị L, số bị cáo còn lại bị khấu trừ một phần thu nhập, mỗi bị cáo là 5% để sung công quỹ Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
. Xét hành vi của các đối tượng: Võ Trung Th, Nguyễn Thị S, Phạm Công D, Đặng Xuân Q, Trần Công H, Lê Quốc T, Nguyễn Thanh Nh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các đối tượng này có dấu hiệu đồng phạm với các bị cáo nêu trên về tội “Đánh bạc” nhất là đối với Võ Trung Th nên khi Tòa án thụ lý hồ sơ đã ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số: 02/2021/HSST-QĐ ngày 11/01/2020 (Lần 01), nhưng Viện kiểm sát có Công văn số: 05/VKS-HS ngày 15/01/2021 về việc giữ nguyên quan điểm truy tố, chuyển hồ sơ vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung để giải quyết theo thẩm quyền. Vì vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Vào ngày 04/3/2021, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm, tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét cần phải trả hồ sơ điều tra bổ sung (Theo Quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung số: 03/2021/HSST-QĐ ngày 04/3/2021 (Lần 02)). Tiếp đó, Viện kiểm sát ra Quyết định số: 01/QĐ-VKS ngày 29/3/2021 về việc trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Thạnh để điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án. Đến ngày 01/6/2021, Viện kiểm sát có Công văn số: 113/VKS-HS ngày 01/6/2021 về việc giữ nguyên quan điểm truy tố, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án để giải quyết theo thẩm quyền. Do vậy, căn cứ vào “Giới hạn của việc xét xử” quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng:
Xét số tiền thu giữ trên chiếu bạc và trên người các con bạc tổng cộng là 10.283.000 đồng (Mười triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn đồng), đây là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. (Số tiền trên được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định theo giấy nộp tiền của ông Trần Ngọc Th nộp vào tài khoản số tài khoản 39490100766400000 ngày 07/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
Xét các vật chứng gồm: 01 (một) thau nhôm và 01 (một) đĩa nhôm; 03 (ba) hột bầu cua có 06 (sáu) mặt in hình các con vật: Tôm – cua – bầu – cá – gà – nai đã qua sử dụng; 01 (một) cái bao màu xanh có dán hình các con vật: tôm – cua – bầu – cá – gà – nai, đây là các công cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Xét 06 (sáu) xe mô tô các loại, gồm: Xe Sirius 77K1 - 088.53 (do Huỳnh Văn Th điều khiển), xe Chaly biển số 77AN - 000.94 (do Nguyễn Thị Nh điều khiển), xe Exeiter biển số 77N1 - 065.28 (do Nguyễn Minh H điều khiển), xe Wave độ chế biển số 55B6 – 2118 (do Bùi Văn T điều khiển), xe Air Blade biển số 77N1 - 015.47 (do Nguyễn Ngọc M điều khiển), xe Click biển số 77N7 – 0225 (do bà Trương Thị Nguyệt L điều khiển), đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nên cần tuyên trả cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát có một số vấn đề phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th phạm tội: “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Bùi Văn T bị khấu trừ 05% thu nhập để sung vào ngân sách Nhà nước, việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn T số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, o khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị L số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Nh 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Nguyễn Thị Nh bị khấu trừ 05% thu nhập để sung vào ngân sách Nhà nước, việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Nh số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Nguyệt L 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Trương Thị Nguyệt L bị khấu trừ 05% thu nhập để sung vào ngân sách Nhà nước, việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bổ sung bị cáo Trương Thị Nguyệt L số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc M 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Nguyễn Ngọc M bị khấu trừ 05% thu nhập để sung vào ngân sách Nhà nước, việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc M số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 16 (Mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Nguyễn Minh H bị khấu trừ 05% thu nhập để sung vào ngân sách Nhà nước, việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Minh H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn Th 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Huỳnh Văn Th bị khấu trừ 05% thu nhập để sung vào ngân sách Nhà nước, việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Văn Th số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc M cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Huỳnh Văn Th cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Trong trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) thau nhôm và 01 (một) đĩa nhôm; 03 (ba) hột bầu cua có 06 (sáu) mặt in hình các con vật: tôm – cua – bầu – cá – gà – nai đã qua sử dụng; 01 (một) cái bao màu xanh có dán hình các con vật: tôm – cua – bầu – cá – gà – nai, đây là các công cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Tuyên trả cho Huỳnh Văn Th xe mô tô Sirius mang 77K1 - 088.53; cho Nguyễn Thị Nh xe mô tô Chaly biển số 77AN - 000.94; cho Nguyễn Minh H xe mô tô Exeiter biển số 77N1 - 065.28; cho Bùi Văn T xe mô tô Wave độ chế biển số 55B6 – 2118; cho Nguyễn Ngọc M xe mô tô Air Blade biển số 77N1 - 015.47; cho Trương Thị Nguyệt L xe mô tô Click biển số 77N7 – 0225.
(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.283.000 đồng (Mười triệu, hai trăm tám mươi ba nghìn đồng). (Số tiền trên được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định theo giấy nộp tiền của ông Trần Ngọc Th nộp vào tài khoản số tài khoản 39490100766400000 ngày 07/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên buộc: Các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Nh, Trương Thị Nguyệt L, Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Minh H, Huỳnh Văn Th, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - P.KTNV và THA-TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Vĩnh Thạnh; - Công an huyện Vĩnh Thạnh (CQ ĐT, CQ THAHS); - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thạnh; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP-VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Biểu |