vanban.org

Bản án 01/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tuyên án 08/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo Th bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29-7-2020. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG VĂN TH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày 08-01 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lâm Anh Luyện.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1. Ông Lý Đức Phượng

2. Bà Trần Thị Hoài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Bà Lý Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020 đối với:

Bị"cáo: HOÀNG VĂN TH - Sinh ngày 05-5-1975, tại thành phố H, tỉnh H. Nơi cư trú: Thôn Làng N, xã Đ, huyện V, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1952 (Đã"chết); Con bà: Lưu Thị L, sinh năm 1946; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 1999.

Tiền án, Tiền sự: Không

Nhân thân:

Bị cáo Th bị bắt ngày 29-7-2020 hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh H; Hôm nay có mặt.

Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"đến"vụ"án: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn Làng N, xã Đ, huyện V, tỉnh H. Hôm nay có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29-7-2020, Hoàng Văn Th, trú tại Thôn Làng N, xã Đ, huyện V, tỉnh H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23H1 - 176.61 từ nhà đi lên thành phố H với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày Th đến nhà một người đàn ông tên H (Th"quen" biết"trước"đó"nhưng"không"biết"họ"và"tên"đệm) nhà ở đối diện Trường Cao đẳng sư phạm tỉnh H. Đến nơi thấy nhà H đóng cửa nên Th gọi “ Anh"H"ơi”, sau đó thấy H

1

ra mở cửa, Th nói “ Anh"bán"cho"em"con"bốn"trăm”, H hiểu ý Th hỏi mua ma túy, H nói “Đưa"tiền"đây”, Th đưa cho H 400.000đ (Bốn"trăm"nghìn"đồng), H cầm tiền và bảo “ Ở"đây"chờ"tý"nhá”. Khoảng 01 phút sau H quay lại đưa cho Th 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy. Nhận ma túy xong Th cầm trong tay rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khoảng 15 giờ 55 phút cùng ngày Th đến gần nhà thuộc Thôn Làng N, xã Đ, huyện V, tỉnh H thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang cả người và tang vật.

Cùng ngày 29-7-2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn Th tại thôn Làng N, xã Đạo Đ, huyện V. Quá trình khám xét không thu giữ được tài liệu đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Ngày 30-7-2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành Trưng cầu giám định: Chất bột màu trắng bên trong gói vỏ giấy kích thước khoảng 2,5cm x 1cm bên ngoài ghi ký hiệu M1 được niêm phong trong phong bì giấy có phải là chất ma túy không, khối lượng là bao nhiêu, loại ma túy gì (BL số 48).

Tại Kết luận giám định số 250/KL-PC09, ngày 31-7-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,208g (Không"phẩy"hai"linh"tám" gam) (BL số 51).

Vật chứng thu giữ gồm:

- 0,208 gam ma túy (còn"lại" sau" khi" đã"lấy" mẫu" giám" định" là" 0,204" gam" được" niêm"phong"trong"01"phong"bì" giấy"bên"ngoài"ghi"“Mẫu" vật" hoàn"trả"sau" giám"định"ký"hiệu"M1”)."

- 01 phong bì giấy được niêm phong bên ngoài ghi “Vỏ"bao"gói"và"phong" bì”;

(Vật"chứng"trên"đã"chuyển"sang"Chi"cục"thi"hành"án"dân"sự"huyện"V"để"quản" lý"theo"quy"định).

Tại cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 17 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Th khai nhận vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29-7-2020, Hoàng Văn Th, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23H1 - 176.61 từ nhà đi lên thành phố H với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày Th đến nhà một người đàn ông tên H, Th đưa cho H 400.000đ (Bốn"trăm"nghìn"đồng), khoảng 01 phút sau H quay lại đưa cho Th 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa ma túy. Nhận ma túy xong Th cầm trong tay rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. khoảng 15 giờ 55 phút ngày 29-7-2020, bị cáo Th bị bắt khi đang có hành vi Tàng trữ 01 gói ma túy (Heroine) có khối lượng là 0,208 gam (Không"phẩy"hai"linh"tám"gam). Bị cáo Th nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị với HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 23H1 - 176.61. Do Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Th đã trả lại cho chị L. Chị L không có đề nghị gì bổ sung.

2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa ngày hôm nay, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V đề nghị với HĐXX tuyên bố:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù, tính từ ngày bị cáo Th bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29-7-2020.

Về vật chứng: Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 0,204 gam ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định (có trong tổng 0,208 gam ma túy), được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên ngoài mặt trước phong bì ghi “ Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1”

- 01 phong bì giấy được niêm phong bởi chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên ngoài mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”

(Theo như biên bản bàn giao ngày 17-12 -2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)

Về án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo Thắng nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng:

Bị cáo Thắng đề nghị xin giảm nhẹ mức hình phạt, mong HĐXX xem xét cho bị cáo, để sớm về hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam đối với bị cáo, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3

Hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 15 giờ 55 phút ngày 29-7-2020, Hoàng Văn Th có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy (Heroine) có khối lượng là 0,208 gam (Không" phẩy" hai" linh" tám" gam) khi đang trên đường đi về Thôn Làng N, xã Đ, huyện V, tỉnh H thì bị Cơ quan điều tra bắt giữ. Lời nhận tội của bị cáo Th trước phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp kết luận giám định vật chứng, bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo Th là người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Hoàng Văn Th đã tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng 0,208 gam (Heroine) với lỗi cố ý đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý. Do vậy HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn Th đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là phù hợp.

Điều luật quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

“1."Người"nào"tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"túy"mà"không"nhằm"mục"đích"mua" bán,"vận"chuyển,"sản"xuất"trái"phép"chất"ma"túy"thuộc"một"trong"các"trường"hợp" sau"đây,"thì"bị"phạt"tù"từ"01"năm"đến"05"năm:"

a..."

c."Heroine"có"khối"lượng"từ"0,1"gam"đến"dưới"05"gam."

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Th thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã xâm phạm sự quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc, vì chất ma tuý là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Từ đó phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác như cướp giật, trộm cắp, lây truyền dịch bệnh HIV-AIDS là nguy hiểm cho xã hội nói chung và trên địa bàn huyện V, tỉnh H nói riêng. Do vậy HĐXX xét thấy cần thiết lên mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra để giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội, theo khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Đối với bị cáo Th không có công việc làm và thu nhập ổn định. HĐXX xét thấy không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo, theo khoản 5 Điều 249 BLHS.

Về vật chứng tịch thu tiêu hủy gồm:

0,204 gam ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định (có tổng 0,208 gam ma túy), được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên ngoài mặt trước phong bì ghi “ Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1”

) 01 phong bì giấy được niêm phong bởi chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên ngoài mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”

4

(Theo như biên bản bàn giao ngày 17-12 -2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)

Theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Về án phí: Buộc bị cáo Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326-2016-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Th là Lê Thanh H, sinh năm 1967, trú tại tổ 16, phường Nguyễn Tr, thành phố H, tỉnh H. Quá trình điều tra H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiếp tục điều tra, thu thập chứng cứ khi xác định được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của H sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Áp dụng Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo Th bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29-7-2020.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm:

- 0,204 gam ma túy còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định (có trong tổng 0,208 gam ma túy), được niêm phong trong 01 phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên ngoài mặt trước phong bì ghi “ Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1”

- 01 Phong bì giấy được niêm phong bởi chữ ký của các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên ngoài mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”

(Theo như biên bản bàn giao ngày 17-12 -2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V)

Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn Th phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08-01-2021).

5

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ