- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Nguyễn Thế Quang cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HSST Ngày 06 tháng 01 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Dung; Ông Lý Và Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 174/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Nguyễn Thế Q - sinh năm 2001 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: ấp B, xã G, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Sinh viên trường đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh – Viện đào tạo quốc tế Hutech; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Lương Thế V – sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Ngọc B - sinh năm 1979; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2020, đến ngày 18/8/2020 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
2. Họ và tên: Đỗ Công D - sinh năm 1997 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: ấp M, xã G, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Công C - sinh năm 1969 và bà Hồ Thị Xuân H - sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2020, đến ngày 22/8/2020 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
3. Họ và tên: Lê Văn Th - sinh năm 1980 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: khu phố M, thị trấn Q, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Minh T – sinh năm 1957 và bà Võ Thị L - sinh năm 1959; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc C – sinh năm 1986 (đã ly hôn) nhưng chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2020, đến ngày 18/8/2020 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
4. Họ và tên: Lê Quốc B - sinh năm 1996 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: khu phố U, thị trấn Q, huyện D, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính : Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Dũng P - sinh năm 1960 và bà Nguyễn Xuân T - sinh năm 1962; Vợ, con : chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2020, đến ngày 22/8/2020 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
5. Họ và tên: Đỗ Văn Đ - sinh năm 1993 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Đỗ Văn D - sinh năm 1955 và bà Phạm Thị L - sinh năm 1955; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2020, đến ngày 22/8/2020 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
6. Họ và tên: Nguyễn Minh Tr - sinh năm 1996 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: khu phố U, thị trấn Q, huyện D, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Nguyễn L – sinh năm 1974 và bà Lê Thị Hồng Tn - sinh năm 1976; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 13/8/2020, đến ngày 22/8/2020 được tại ngoại đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 13/8/2020, tại quán cà phê Thịnh, thuộc khu phố Hiệp Quyết, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán do Nguyễn Minh Tr quản lý, các gồm: Lương Nguyễn Thế Q, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Lê Văn Th và Đỗ Công D cùng một số đối tượng khác không rõ nhân thân lai lịch đến đây để uống nước, sau đó các bị cáo rủ nhau đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “xì tố”. Nguyễn Minh Tr là người quản lý quán, cung cấp 02 bộ bài tây và lấy tiền xâu trong quá trình các bị cáo đánh bạc.
Cách thức đánh bạc như sau: Các bị cáo sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá, chia đều cho mỗi tụ 02 lá, số bài còn lại được úp lại và các tụ bắt đầu rút. Vòng đầu tiền người chơi được rút một lá bài úp rồi bật lên, tiếp tục người chơi được rút lá bài thứ hai rồi úp xuống. Mỗi người chơi được rút tối đa 05 lá bài và mức đặt cược từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, sau đó người chơi tự quyết định nếu thấy bài của mình nhỏ hơn bài người chơi khác thì có thể úp bỏ nhưng sẽ thua số tiền đã đặt cược trước đó, nếu thấy bài lớn thì người chơi tiếp tục rút bài và tố tiền cược theo quy định, từ cây bài thứ 3 trở đi nếu không có người chơi nào tố theo thì người tố cuối cùng sẽ thắng, nếu có người tố theo đến cây bài thứ 5 thì sẽ lật hết bài của những người tố theo để so kết quả, nếu bài nào lớn nhất thì sẽ ăn tất cả số tiền đã tố của những nhà còn lại.
Các bị cáo còn quy định nếu có ván bài nào mà số tiền người chơi thắng trên 200.000đ thì phải bỏ ra 10.000đ tiền xâu cho Nguyễn Minh Tr, đến thời điểm bị bắt quả tang, Trí thu được 100.000đ tiền xâu.
Cả nhóm đánh bạc đến 15 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Định Quán bắt quả tang; vật chứng thu giữ gồm:
- Tiền thu trên chiếu bạc là 3.330.000đ, (trong đó gồm 100.000đ tiền xâu, 50.000đ tiền đường, vị trí ngồi của Quang 400.000đ, vị trí ngồi của Bảo 850.000đ, vị trí ngồi của Đại 1.760.000đ, vị trí ngồi của Thuận 170.000đ). Tiền thu trong người các bị cáo là 2.600.000đ, (bao gồm thu trong người Quang 50.000đ, trong người Bảo 1.500.000đ, trong người Thuận 400.000đ, trong người Danh 650.000đ).
- 02 bộ bài tây đã qua sử dụng và 05 điện thoại di động các loại.
Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Khi tham gia đánh bạc,
Lương Nguyễn Thế Q dùng 1.200.000đ vào việc đánh bạc, Quang thua 750.000đ.
Đỗ Công D dùng 690.000đ vào việc đánh bạc, Danh thua 40.000đ.
Lê Văn Th dùng 600.000đ vào việc đánh bạc, Thuận thua 30.000đ.
Lê Quốc B dùng 500.000 đồng vào việc đánh bạc, Bảo thắng 1.850.000đ.
Đỗ Văn Đ dùng 500.000đ vào việc đánh bạc, Đại thắng 1.260.000đ.
Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là: 5.930.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 131/CT-VKSĐQ ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Lương Nguyễn Thế Q, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Lê Văn Th, Đỗ Công D và Nguyễn Minh Tr về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
1/ Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt tiền các bị cáo:
- Mỗi bị cáo Lương Nguyễn Thế Q, Nguyễn Minh Tr từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ;
- Mỗi bị cáo Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Lê Văn Th, Đỗ Công D từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.
Kiểm sát viên còn phát biểu quan điểm về xử lý vật chứng và án phí vụ án.
2/ Các bị cáo Lương Nguyễn Thế Q, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Lê Văn Th, Đỗ Công D và Nguyễn Minh Tr thành khẩn nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo đều xác định ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã nêu trong cáo trạng thì các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lương Nguyễn Thế Q, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Lê Văn Th, Đỗ Công D và Nguyễn Minh Tr không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ để kết tội đối với các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lương Nguyễn Thế Q, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Lê Văn Th, Đỗ Công D và Nguyễn Minh Tr đã khai nhận tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 13/8/2020, tại quán cà phê Thịnh thuộc khu phố Hiệp Quyết, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Lương Nguyễn Thế Q, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ, Đỗ Công D, Lê Văn Th, đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “xì tố” còn Nguyễn Minh Tr là chủ quán nước cho các bị cáo đánh bạc để thu tiền xâu thì bị Công an huyện Định Quán đã bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 5.930.000đ nên hành vi của các bị cáo Quang, Bảo, Đại, Danh, Thuận đã phạm vào tội “Đánh bạc”;
Đối với bị cáo Nguyễn Minh Tr là chủ quán nước cho các bị cáo đánh bạc để trục lợi bằng cách thu tiền xâu nhưng quy mô chiếu bạc không lớn nên chưa cấu thành tội gá bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với các bị cáo còn lại với vai trò đồng phạm;
Tội phạm và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Minh Tr, Lương Nguyễn Thế Q, Đỗ Công D, Lê Văn Th, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét thấy: Đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên pháp luật nghiêm cấm. Các bị cáo Nguyễn Minh Tr, Lương Nguyễn Thế Q, Đỗ Công D, Lê Văn Th, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ biết rõ điều này nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng về an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; trong thời gian qua tình hình tội phạm đánh bạc trên địa bàn diễn biến hết sức phức tạp, gây ra nhiều hệ lụy xấu. Việc đưa ra xét xử và tuyên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng để trừng phạt các bị cáo vừa để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội là cần thiết.
Phân hóa mức độ hành vi của các bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo phân hóa như sau:
- Bị cáo Nguyễn Minh Tr tuy không tham gia đánh bạc nhưng đã dùng nơi ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc; chuẩn bị dụng cụ đánh bạc, thu tiền “xâu”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm nhất nên phải bị xử lý nghiêm nhất.
- Bị cáo Lương Nguyễn Thế Q sử dụng số tiền 1.200.000đ – Là số tiền cao nhất so với các bị cáo còn lại, để tham gia đánh bạc. Hành vi của bị cáo là ít nguy hiểm so với bị cáo Trí nên phải chịu hình phạt nhẹ hơn bị cáo Trí nhưng nặng hơn các bị cáo còn lại.
- Các bị cáo Đỗ Công D, Lê Văn Th, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ sử dụng số tiền tương đương nhau để đánh bạc nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy rằng:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tất cả các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo nhất thời phạm tội, đều là lao động chính và đang học tập nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về biện pháp tư pháp và các vấn đề khác:
- Số tiền 5.930.000đ là số tiền dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 05 điện thoại di động các loại thu giữ trong vụ án, không sử dụng vào việc đánh bạc, nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sỡ hữu là phù hợp.
- Đối với 02 bộ bài tây đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- Các đối tượng đánh bạc cùng với các bị cáo nhưng đã tẩu thoát: Do không biết nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật, hình phạt, biện pháp tư pháp là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Tr, Lương Nguyễn Thế Q, Đỗ Công D, Lê Văn Th, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”.
2/ Về luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
3/ Về hình phạt:
Phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr số tiền 30.000.000đ.
Phạt bị cáo Lương Nguyễn Thế Q số tiền 25.000.000đ.
Phạt mỗi bị cáo Đỗ Công D, Lê Văn Th, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ số tiền 20.000.000đ
4/ Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.930.000đ (Theo biên lai thu tiền số 0002915 ngày 01/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán).
- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2020 giữa VKSND huyện Định Quán với Chi cục THADS huyện Định Quán).
5/ Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6/ Quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Minh Tr, Lương Nguyễn Thế Q, Đỗ Công D, Lê Văn Th, Lê Quốc B, Đỗ Văn Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai. - VKSND tỉnh Đồng Nai. - VKSND huyện Định Quán. - Công an huyện Định Quán. - Chi cục THA huyện Định Quán. - Các bị cáo. - Lưu hồ sơ, VP. | Lê Xuân Hòa |