vanban.org

Bản án 01/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 12/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 15/6/2020. Về biện pháp tư pháp áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H pham tôi "Tàng trư trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày 12/01/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hữu Tâm

2. Ông Dƣơng Quốc Dũng

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/QĐXXST– HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1996 tại Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp VT, xã VHH, CT, KG; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1974 và bà Trần Kim P, sinh năm 1974; Vợ tên Thái Linh Đ, sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2020, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Ngô Văn H2, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Trú tại: ấp VTA, xã VHH, CT, KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/10/1996, cư trú ấp VT, xã VHH, CT, KG là đối tượng nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng nên vào chiều ngày 14 tháng 6 năm 2020, H dùng điện thoại hiệu Samsung màu vàng gold liên lạc với một đối tượng tên Th (không xác định nhân thân, lai lịch, Th là bạn quen biết trước đây của H) để hỏi mua ma túy đá với số tiền 4.000.000 đồng thì Th đồng ý bán. Hai bên thỏa Th khi nào Th có ma túy sẽ giao ma túy cho H tại ngã ba cây xăng “Nam Hưng” thuộc ấp Sua Đũa, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Đến tối cùng ngày, Hứa Thanh T, sinh năm: 2003, cư trú: ấp TĐ, xã GT, huyện CT, tỉnh Kiên Giang đến nhà và rủ H đi chơi thì H đồng ý. Lúc này H hỏi mượn xe mô tô hiệu SUZUKI loại SATRIA biển số kiểm soát 68C1-418.33 của bà Ngô Thanh H3 (H3 là mẹ vợ của H) để đi chơi thì bà H3 đồng ý. Sau đó H chở T ra khu vực Rạch Sỏi thuộc thành phố Rạch Giá để uống cà phê.

Đến khoảng 01 giờ, ngày 15 tháng 6 năm 2020, Th gọi điện thoại cho H và kêu H đi đến ngã ba cây xăng Nam Hưng để lấy ma túy. Lúc này, H điều khiển xe chở T đi đến địa điểm trên để gặp Th. Đến nơi H kêu T điều khiển xe đi nơi khác, mục đích không cho T biết việc H mua ma túy còn H thì một mình đứng đợi Th. Một lúc sau, Th điều khiển xe mô tô (không rõ biển số kiểm soát) đến gặp H và giao cho H 2 bịch ma túy đá, H trả cho Th 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H cất giấu ma túy trong túi quần mục đích để sử dụng. Cất giấu ma túy xong H điện thoại kêu T quay lại để đón H. Sau đó H điều khiển xe chở T đi về hướng Minh Lương. Khi H đến khu vực đèn tín hiệu giao thông tại ngã ba “Tà Niên” thuộc ấp Vĩnh Thành B, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng tuần tra của Công an huyện Châu Thành kiểm tra bắt quả tang H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ: 01 bịch nylon được hàn kín có kích thước 2,5cm x 2,5cm, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, nghi là chất ma túy thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn H; 01 bịch nylon được hàn kín có kích thước 6,4cm x 4cm, bên trong chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, nghi là chất ma túy thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn H. Hai bịch nylon trên đã được niêm phong theo đúng quy định; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 16,5cm; 01 bình thủy tinh không xác định hình dạng; Tiền Việt Nam: 1.070.000 đồng; 01 xe môtô nhãn hiệu SUZUKI SATRIA, màu xanh, biển số kiểm soát 68C1-418.33 đã qua sử dụng; 01 giấy đăng ký xe số: 029369 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng gold, kính màn hình và mặt sau bị bể, không rõ đời máy đã qua sử dụng.

Sau khi bắt quả tang H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan chức năng đã đưa H về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành để lấy lời khai. Tại đây H đã thừa nH hành vi phạm tội của mình.

Ngày 15 tháng 6 năm 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã tiến hành trưng giám định chất ma túy đến Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang đối với vật chứng trên.

Tại bản kết luận giám định số 475/KL-KTHS ngày 18 tháng 6 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Nhiều hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 9,8692 gam.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu các đồ vật gồm:

- Trả cho Nguyễn Văn H số tiền 1.070.000 đồng không liên quan đến vụ án.

- Trả lại cho chủ sỡ hữu là bà Ngô Thanh H3: 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SATRIA, màu xanh, biển số kiểm soát 68C1-418.33, số máy: CGA11D155353, số khung: 11AJJ155338 đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe số: 029369.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng các đồ vật gồm:

- 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 475/2020, ngày 22 tháng 6 năm 2020, người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 16,5cm; 01 bình thủy tinh không xác định hình dạng. Các vật chứng này đến nay không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng gold, loại SM-G960N, số Imel: 353524/09/465107/4SKT, vật chứng này là công cụ sử dụng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Trong vụ án này đối tượng tên Th là người bán ma túy cho H, do không xác định được họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang chưa thể làm việc được với đối tượng này. Vì vậy khi nào xác minh được đối tượng trên sẽ làm việc xử lý sau.

Trong vụ án này đối với Hứa Thanh T là người đi chung xe với H, Quá trình điều tra đã xác định H mua ma túy của Th, T hoàn toàn không biết. Đồng thời T cũng không cùng H tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy không xử lý hình sự đối với T.

Tại bản cáo trạng số: 79/CT-VKS-CT ngày 05/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 05 đến 06 năm tù.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 475/2020, ngày 22 tháng 6 năm 2020, người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 16,5cm và 01 bình thủy tinh không xác định hình dạng.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng gold, loại SM-G960N, số Imel: 353524/09/465107/4SKT.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nH thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nH toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Nguyễn Văn H là người nghiện hút ma túy để có ma túy sử dụng nên vào ngày 15/6/2020 H liên hệ với đối tượng tên Th (chưa rỏ nhân thân lai lịch) hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy thì Th đồng ý. Sau khi nH được ma túy, H cất giấu số ma túy vào trong túi quần rồi điều khiển xe chở Hứa Thanh T lưu thông trên Quốc Lộ 61 đi về hướng thị trấn Minh Lương. Khi H đi đến khu vực đèn tín hiệu giao thông tại ngã ba Tà Niên thuộc ấp Vĩnh Thành B, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang H đang tàng trữ trái phép 9,8692 gam ma túy loại methamphetamine.

Căn cứ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự thì “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ... ; g) Methamphetamine....có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;...

Như vậy, hành vi cất giấu 9,8692 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bởi đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội của công dân. Bản thân bị cáo nH thức rõ việc sử dụng ma túy không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của chính bản thân bị cáo mà còn gây ra bao nhiêu hệ lụy cho xã hội như: Trộm cắp, cướp của, giết người... để có tiền mua ma túy nên pháp luật nghiêm cấm. Mặc dù biết được tác hại của ma túy thế nhưng với lối sống buôn thả và để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo đã bất chấp sự nghiêm trị của pháp luật cố ý tìm mua 9,8692 gam ma túy loại Methamphetamine để dành sử dụng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Trong tình hình tội phạm về ma túy và H2 quả của việc sử dụng ma túy gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội như hiện nay nên HĐXX nghị án thảo luận cần có mức án nghiêm và cần tách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án tiền sự nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét hình phạt khi lượng hình là phù hợp.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nH để xem xét.

[6] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

6.1 Đối với 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 475/2020, ngày 22 tháng 6 năm 2020, người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang đây là số ma túy sau giám còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 16,5cm và 01 bình thủy tinh không xác định hình dạng đã thu giữ trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên là phù hợp.

6.2 Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng gold, loại SM-G960N, số Imel: 353524/09/465107/4SKT đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc mua ma túy nên cần xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.

[7] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 15/6/2020.

Về biện pháp tư pháp áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 475/2020, ngày 22 tháng 6 năm 2020, người chứng kiến Trần Minh Hải, giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 8,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 16,5cm và 01 bình thủy tinh không xác định hình dạng.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu vàng gold, loại SM-G960N, số Imel: 353524/09/465107/4SKT.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 50/QĐ-VKSCT ngày 05/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Về áp phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nH:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Kiên Giang;

Cỡ chữ