- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147;điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, mi…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày 08-02-2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Hoàng Thị Thu Lâm và ông Lê Văn Tuấn.
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2020/TLST-HNGĐ ngày 28- 10-2020 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08/01/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Chị Trần Thị Thu H, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Thanh Tr, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường X, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày: Chị và anh Trần Thanh Tr kết hôn vào ngày 12/11/2010 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã được hai bên gia đình đồng ý và UBND thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh(Nay là UBND phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận với nhau thời gian khoảng 05 năm, đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Trần Thanh Tr ghen tuông vô cớ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự và thậm chí bạo hành chị(cả lời nói và hành động). Vợ chồng sống ly thân từ tháng 07/2020 đến nay. Hiện chị Trần Thị Thu H xác định không còn tình cảm với anh Trần Thanh Tr nữa nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh Trần Thanh Tr. Về con chung vợ chồng có 02 con chung là Trần Vĩ Q, sinh ngày 01/7/2012 và Trần Mỹ L, sinh ngày 25/01/2015. Chị Trần Thị Thu H yêu cầu được nuôi cả hai con yêu cầu anh Trần Thanh Tr cấp dưỡng cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: chị Trần Thị Thu H không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình hòa giải tại Tòa án, bị đơn anh Trần Thanh Tr trình bày: Anh thống nhất về thời điểm cũng như sự tự nguyện khi kết hôn và con chung trong thời kỳ hôn nhân như chị Trần Thị Thu H trình bày. Anh Trần Thanh Tr cho rằng vợ chồng cóphát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 07/2020 nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất hòa không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng chưa có mâu thuẫn gì lớn đến mức phải ly hôn nên anh Trần Thanh Tr mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhằm xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái nên anh Trần Thanh Tr không đồng ý ly hôn; Về con chung: Anh Trần Thanh Tr không đồng ý việc ly hôn nên anh không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung; Về tài sản chungvà nợ chung: Nếu phải ly hôn anh Trần Thanh Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Trần Vĩ Q có đơn nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị Trần Thị Thu H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơnđã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưathực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn Trần Thanh Tr vắng mặt lần thứ hai không có lý do, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn Trần Thanh Tr và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Trần Thị Huyềnđược ly hôn anh Trần Thanh Tr. Về con chung: Đề nghị căn cứ vào các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Trần Vĩ Q cho anh Trần Thanh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Trần Mỹ L cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị HĐXX không xem xét; Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định; Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Trần Thanh Tr được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Bị đơn Trần Thanh Tr vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H và anh Trần Thanh Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh(nay là UBND phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) vào ngày 12/11/2010đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo luật định. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thu H và anh Trần Thanh Tr là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Sau đó phát sinh mâu thuẫn từ khoảng đầu năm 2015đến nay, nguyên nhân chị Trần Thị Thu H cho rằng anh Trần Thanh Tr nhiều lần ghen tuông vô cớ, gây mâu thuẫn dẫn đến xúc phạm nhân phẩm và bạo hành đối với chị, điều đó thể hiện vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Chị Trần Thị Thu H cũng như anh Trần Thanh Tr xác nhận đã cùng gia đình hai bên hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng đều không có kết quả, sau khi ly thân tháng 7/2020 anh Trần Thanh Tryêu cầu chị Trần Thị Thu H về sống đoàn tụ nhưng chị Trần Thị Thu H không quay về để đoàn tụ vợ chồng, vợ chồng sống ly thân từ đóđến nay. Hội đồng xét xử thấy: Thực tế vợ chồng đã ly thân từ tháng 07/2020 cho đến nay, phía chị Trần Thị Thu H xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy gay gắt, trầm trọng, do vậy chị không còn tình cảm vợ chồng với anh Trần Thanh Tr. Bản thân anh Trần Thanh Tr xác nhận vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nhưng anh Trần Thanh Tr cho rằng mâu thuẫn chưa trầm trọng, do vậy anh không đồng ý ly hôn và mong muốn chị Trần Thị Thu H quay về sống đoàn tụ. Quá trình làm việc tại Tòa án, Tòa án đã tiến hành hoà giải hàn hắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng phía chị Trần Thị Thu H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị được ly hôn. Quá trình làm việc tại Tòa án anh Trần Thanh Tr không đưa ra được phương pháp nào khác để tháo gỡ mâu thuẫn vợ chồng ngoài lời đề nghị chị Trần Thị Thu H trở về đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân giữa chị Trần Thị Thu H và anh Trần Thanh Tr không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng cũng không thể có hạnh phúc. Xét yêu cầu của chị Trần Thị Thu H là phù hợp với thực tế cuộc sống chung của vợ chồng, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Do vậy, cần xử cho chị Trần Thị Thu Hđược ly hôn với anh Trần Thanh Tr là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Trần Thị Thu H và anh Trần Thanh Tr xác nhận vợ chồngcó 02 con chung là là Trần Vĩ Q, sinh ngày 01/7/2012 và Trần Mỹ L, sinh ngày 25/01/2015. Trong đơn khởi kiện cũng như quá trình làm việc tại Tòa án chị Trần Thị Thu H yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con và yêu cầu anh Trần Thanh Tr cấp dưỡng nuôi con chung, cháu Trần Vĩ Q cũng có đơn nguyện vọng xin được ở với mẹ; nhưng tại phiên tòa hôm nay chị Trần Thị Thu H thay đổi yêu cầu, chị chỉ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Trần Thị Mỹ Linh, còn con chung Trần Vĩ Q chị đề nghị giao cho anh Trần Thanh Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cũng như nguyện vọng của chị Trần Thị Thu H tại phaieen tòa hôm nay, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Trần Vĩ Q cho anh Trần Thanh Tr nuôi dưỡng và giao co Trần Mỹ L cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn hợp lý.Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thu H về không yêu cầu anh Trần Thanh Tr phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu, do vậy không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu án ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147;điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Xử vắng mặt bị đơn anh Trần Thanh Tr.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Trần Thanh Tr.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Mỹ L, sinh ngày 25/01/2015 đến khi đủ tuổi trưởng thành(đủ tròn 18 tuổi). Giao cho anh Trần Thanh Tr trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Vĩ Q, sinh ngày 01/7/2012 đến khi đủ tuổi trưởng thành(đủ tròn 18 tuổi) Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thu H về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số AA/2016/ 0007109 ngày 28 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tiền án phí chị Trần Thị Thu Hđã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơncó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND thị xã Kỳ Anh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh; - Các đương sự; - UBND phường Hưng Trí; - Lưu Hồ sơ; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đinh Văn Tƣ |