- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Mỹ N. Bà Võ Thị Mỹ N được ly hôn với ông Lê Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05/01/2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Baø Nguyễn Thị Viết Sáu;
2. Ông Đỗ Văn Hòa;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 464/2020/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 493/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/12/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 516/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18/12/2020 giữa:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ N, sinh năm 1993 Địa chỉ: Khu phố 3, phường Lạc Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1983 Địa chỉ: Thôn Tiến T, xã Tiến L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà Võ Thị Mỹ N, vắng mặt ông Lê Quốc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/8/2020, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê Quốc T sống chung từ năm 2009 và tự nguyện tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2011 thì đi đến kết hôn tại UBND xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 25/4/2011.
Sau khi chung sống một thời gian, thì hai bên không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, không hợp nhau cả về tư tưởng cũng như cách sống. Tôi thấy, cuộc sống hôn nhân ngày càng rơi vào tình trạng trầm trọng không lối thoát, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa tôi và ông Lê Quốc T.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Lê Ngọc Kim C (Nữ), sinh ngày: 07/10/2010.
Sau khi ly hôn, tôi giao con chung tên Lê Ngọc Kim C (Nữ), sinh ngày: 07/10/2010 cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng, tôi không trợ cấp nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ông Lê Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Quốc T không đến Tòa và từ chối tham gia các phiên hòa cũng như cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành các thủ tục như mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia các thủ tục của Tòa án được.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Đối với Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử thực hiện đúng theo thủ tục. Hội đồng xét xử đúng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ tại hồ sơ thể hiện mâu thuẫn giữa bà Võ Thị Mỹ N, ông Lê Quốc T đã trầm trọng. Do đó, căn cứ Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Mỹ N về việc xin ly hôn với ông Lê Quốc T và giao con chung tên giao con chung tên Lê Ngọc Kim C (Nữ), sinh ngày: 07/10/2010 cho ông Lê Quốc T được trực tiếp nuôi dưỡng, bà Võ Thị Mỹ N không trợ cấp nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Võ Thị Mỹ N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Quốc T, ông Lê Quốc T có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú là Thôn Tiến Thạnh, xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Quốc T không đến Tòa và từ chối tham gia các phiên hòa cũng như cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành các thủ tục như mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia các thủ tục của Tòa án được. Căn cứ vào Điều 70, Điều 72, Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem như ông Lê Quốc T đã tự khước từ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Quốc T.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mỹ N và ông Lê Quốc T có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25 ngày 25/4/2011 tại UBND xã Tiến Lợi, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của bà Nương và ông Thắng là hợp pháp.
Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Qua lời khai của bà Võ Thị Mỹ N, cũng như xác minh tại địa phương thể hiện thực tế cuộc sống hôn nhân của bà Võ Thị Mỹ N, ông Lê Quốc T không còn hạnh phúc, ông bà không còn quan tâm, tôn trọng, chung sống với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, ông bà đã không yêu thương và quan tâm lẫn nhau từ năm 2015 đến nay, không còn muốn hàn gắn mối quan hệ mặc dù đã nhiều lần nói chuyện với nhau để vì con mà xây dựng lại từ đầu, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Quốc T mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để đến Tòa trình bày ý kiến và tham gia phiên hòa giải, tuy nhiên ông Lê Quốc T không đến hòa giải nên Tòa án không thể hàn gắn tình cảm cho ông bà, như vậy ông Lê Quốc T đã tự khước từ việc hòa giải và quyền lợi của mình. Điều này chứng tỏ mối quan hệ hôn nhân của ông bà đã thật sự rạn nứt, ông Lê Quốc T không muốn hòa giải tình cảm với bà Võ Thị Mỹ N nếu tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi và nhằm ổn định cuộc sống cho các bên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Mỹ N là phù hợp.
Về con chung: có 01 con chung tên Lê Ngọc Kim C (Nữ), sinh ngày: 07/10/2010. Hiện nay cháu đang do ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà Võ Thị Mỹ N có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Hiện nay cháu đang học tại trường Tiểu học Tiến Lợi, lớp 5C. Xét yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con chung cho ai nuôi phải bảo đảm đời sống của các cháu được ổn định, nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất. Giao con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về phương thức cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị Mỹ N giao con cho ông Lê Quốc T nuôi dưỡng và không trợ cấp nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu Lê Ngọc Kim C , nên chấp nhận yêu cầu này của bà Võ Thị Mỹ N là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Do bà Võ Thị Mỹ N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến trình bày của đương sự, cũng như quan điểm đề nghị tại Tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về việc xin ly hôn của bà Võ Thị Mỹ N, giao con chung cho ông Lê Quốc T nuôi dưỡng và không cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà Võ Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí về việc yêu cầu xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Mỹ N. Bà Võ Thị Mỹ N được ly hôn với ông Lê Quốc T.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Kim C (Nữ), sinh ngày: 07/10/2010 cho ông Lê Quốc T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chưa thành niên, các con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về phương thức cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị Mỹ N không cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mỹ N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà Võ Thị Mỹ N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Võ Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 07/10/2020 bà Võ Thị Mỹ N đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Phan Thiết thu biên lai số 0007967 nay được chuyển sang án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày tính từ ngày tuyên án (05/01/2021), quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Thi hành án dân sự Phan Thiết; - UBND xã, phường (nơi đăng ký kết hôn); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Đỗ Thị Yến Linh |