vanban.org

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T).

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị A tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phạm Minh T, sinh ngày 10/12/2006 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị A về việc không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị A xin ly hôn anh Phạm Đình T (tức Phạm Văn T) và yêu cầu giải quyết về con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T).
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST
Ngày 19-01-2021
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm và bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2020/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 30/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 giữa các đƣơng sự;

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1974;

ĐKHKTT: thôn X, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Chỗ ở hiện nay: thôn O, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Bị đơn: Anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T), sinh năm 1970;

ĐKHKTT: thôn O, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

3. Người làm chứng: Bà Đoàn Thị Đ, sinh năm 1949.

Trú quán: thôn O, xã H, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị A có mặt; anh T, bà Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T) kết hôn với nhau trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H ngày 07/11/1991. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đƣợc một thời gian dài thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình; anh T muốn đi vào trong tỉnh B làm kinh tế nhƣng chị không đồng ý, vì muốn vợ chồng ở nhà bảo nhau làm ăn nhƣng anh T không nghe. Từ đó mà vợ chồng liên tục xẩy ra mâu thuẫn, đánh cãi chửi nhau và nhiều ngày vợ chồng không nói chuyện với nhau. Sau đó chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh T đi làm ăn xa, thỉnh có về thăm chị nhƣng tình cảm vợ chồng cứ nhạt dần, vợ chồng ly thân từ năm 2007 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị O, sinh ngày 25/8/1992 và Phạm Minh T, sinh ngày 10/12/2006. Đối với cháu O hiện đã trƣởng thành, có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu T đang ở cùng với chị, chị xin nuôi dƣỡng con chung Phạm Minh T và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Hiện chị làm lao động tự do, thu nhập trung bình hàng tháng 7 triệu đồng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu Toà án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, do anh T không có mặt ở nhà nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ngƣời thân nhƣng anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không có bất cứ ý kiến nào bằng văn bản gửi cho Tòa án. Kết quả làm việc với bà Đoàn Thị Đ (là mẹ đẻ anh T) cung cấp: Chị A và anh T kết hôn với nhau năm 1991, có đăng ký kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt cũng nhƣ làm ăn phát triển kinh tế gia đình, anh T muốn đi làm xa nhƣng chị A không đồng ý, từ đó mà vợ chồng thƣờng xuyên xẩy ra xô xát, cãi vã nhau. Chán nản, chị A bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở còn anh T vẫn đi làm ăn, nay đây mai đó, thỉnh thoảng có việc, anh T vẫn về thăm gia đình nhƣng hai vợ chồng không quay lại đoàn tụ với nhau nữa. Nay, chị A có đơn xin ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo đơn của chị A vì anh chị ly thân đã lâu, không còn quan tâm gì đến nhau, không có khả năng đoàn tụ. Anh T, chị A có hai con chung, cháu Phạm Thị O, sinh ngày 25/8/1992 đã trƣởng thành, có cuộc sống riêng; đối với cháu Phạm Minh T đang ở với chị A, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh T, chị A không có tài sản chung, không vay nợ bà. Khi Tòa án về giao các văn bản tố tụng, bà đã thông báo cho anh T biết, tuy nhiên anh T có trao đổi với bà do công việc bận, không về tham gia tố tụng đƣợc, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Lời khai của cháu Phạm Minh T có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ.

- Kết quả làm việc với đại diện UBND xã H và các đoàn thể và chính quyền thôn Ô Mễ, xã H đều cung cấp: Anh T, chị A đƣợc tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn, anh chị đi làm ăn trong Miền Nam đƣợc một thời gian, đến năm 1994 thì về địa phƣơng sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn gì không thì địa phƣơng không nắm rõ. Chỉ biết sau khi về địa phƣơng một thời gian, chị A không ở cùng anh T nữa mà bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, còn anh T tiếp tục đi làm ăn tự do, thỉnh thoảng có về địa phƣơng và liên lạc về gia đình, còn cụ thể anh T làm gì, ở đâu thì địa phƣơng không nắm đƣợc. Nay, chị A xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết về con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xem xét giao cháu T cho chị A nuôi dƣỡng, vì anh T không có mặt ở nhà.

Cục quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an xác nhận anh Phạm Đình T (tức Phạm Văn T) không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh.

Tại phiên toà, chị A vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Đình T; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị A đƣợc nuôi dƣỡng con chung Phạm Minh T, sinh ngày 10/12/2006 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai đƣợc cản trở. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị A không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm;

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phạm Đình T (tức Phạm Văn T) đƣợc Toà án triệu tập đến tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt anh T.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A và anh Phạm Đình T kết hôn trên cơ sở đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Tứ Kỳ ngày 07/11/1991 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc, hoà thuận đƣợc khoảng vài năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau trong cách sống, sinh hoạt, vợ chồng bất đồng quan điểm. Theo chị A trình bày, do anh T muốn đi xa làm ăn nhƣng vì con còn nhỏ, chị không đồng ý mà muốn vợ chồng ở nhà cùng bảo ban nhau làm ăn nhƣng anh T không nghe, từ đó mà vợ chồng thƣờng xuyên xẩy ra xô xát, cãi vã, sau đó không nói chuyện với nhau trong một thời gian dài, anh T vẫn tiếp tục đi làm ăn xa, không quan tâm gì đến mẹ con chị. Sau đó, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở, tình cảm vợ chồng cứ ngày một lạnh nhạt, xa cách, vợ chồng ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Căn cứ vào các tài liệu Toà án thu thập đƣợc xác định mặc dù anh T biết Toà án đang giải quyết vụ án ly hôn theo yêu cầu của chị A và yêu cầu anh T đến Toà án làm việc theo các văn bản tố tụng đã đƣợc giao cho ngƣời thân theo quy định của pháp luật, tuy nhiên anh T vẫn cố tình không đến Tòa án làm việc, không gửi tài liệu, chứng cứ thể hiện quan điểm của mình với việc khởi kiện của chị A là gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, không có giải pháp tìm gặp chị A bàn bạc, dàn xếp tình cảm vợ chồng và không có thiện chí đoàn tụ. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị A, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị A đƣợc ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị O, sinh ngày 25/8/1992 và Phạm Minh T, sinh ngày 10/12/2006. Đối với cháu O đã trƣởng thành nên Toà án không phải giải quyết. Đối với cháu T hiện đang ở với mẹ, chị đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung Phạm Minh T và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị A thấy rằng: Hiện cháu T đã trên bẩy tuổi và có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ, thực tế từ khi đƣợc sinh ra đến nay cháu T đều do chị A nuôi dƣỡng, có cuộc sống học tập ổn định. Chị A hiện làm lao động tự do, có thu nhập, thuộc trƣờng hợp đủ điều kiện nuôi con. Anh T đã đƣợc triệu tập nhiều lần nhƣng không đến Toà án để làm việc, do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của con chung. Cần tiếp tục giao cháu Phạm Minh T cho chị A nuôi dƣỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị A không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị A khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị A đƣợc ly hôn anh Phạm Đình T (tên gọi khác Phạm Văn T).

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị A tiếp tục nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phạm Minh T, sinh ngày 10/12/2006 cho đến khi trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị A về việc không yêu cầu anh T cấp dƣỡng nuôi con. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, theo biên lai số AA/2017/0009942 ngày 21/10/2020.

4. Về quyền kháng cáo: Chị A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ