- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị Ngọc M yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ng c M.
- Căn cứ chính? Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu M và cháu Q
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST. Ngày: 01-02-2021. “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liên Lâm Anh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Quân.
Ông Võ Quốc Hưng.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Ng c Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa: ông Bùi Văn Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2020/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 8 năm 2020 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Ngọc M, sinh năm: 1984.
Cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: anh Trần Văn H, sinh năm: 1969.
Cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 8 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Ng c M trình bày:
- Về hôn nhân: chị Phạm Thị Ng c M và anh Trần Văn H tự nguyện tổ chức lễ cưới vào năm 2005, nhưng đến ngày 10/9/2015 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Sau khi kết hôn chị M và anh H chung sống hạnh phúc, đến đầu tháng 6 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị M và anh H sống ly thân từ tháng 6 năm 2020 cho đến nay. Chị M yêu cầu được ly hôn với anh H.
- Về con chung: trong thời gian chung sống chị M và anh H có 02 người con chung tên Trần Phạm Diễm M, sinh ngày 19/02/2006 và Trần Phạm Diễm Q, sinh ngày 09/11/2016. Hiện nay cháu M và cháu Q đang sống chung với chị M. Chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu M và cháu Q cho đến khi cháu M và cháu Q thành niên, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống chị M và anh H không có tài sản chung và nợ chung, nên chị M không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Thị Ng c M vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Văn H trình bày:
- Về hôn nhân: anh Trần Văn H và chị Phạm Thị Ng c M tự nguyện tổ chức lễ cưới vào tháng 02 năm 2005, nhưng đến ngày 10/9/2005 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Sau khi kết hôn anh H và chị M chung sống hạnh phúc, đến tháng 4 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên vợ chồng có cãi vã qua lại. Anh H và chị M sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 cho đến nay. Anh H yêu cầu được đoàn tụ, không thống nhất ly hôn với chị M, vì anh còn thương chị M và thương con.
- Về con chung: trong thời gian chung sống anh H và chị M có 02 đứa con chung tên Trần Phạm Diễm M, sinh ngày 19/02/2006 và Trần Phạm Diễm Q, sinh ngày 09/11/2016, hiện nay cháu M và cháu Q đang sống chung với chị M. Anh H thống nhất cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng cháu M và cháu Q cho đến khi thành niên, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: trong thời gian chung sống anh H và chị M không có tài sản chung và nợ chung, nên chị M và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị Ng c M. Về hôn nhân: xử cho chị M được ly hôn với anh H; về con chung: giao 02 cháu Trần Phạm Diễm M và Trần Phạm Diễm Q cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu M và cháu Q thành niên, do chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: anh H và chị M không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 8 năm 2020 của chị Phạm Thị Ng c M thì chị M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn H. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Anh Trần Văn H là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Ng c M và anh Trần Văn H tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị M và anh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị M và anh H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn thì chị M và anh H chung sống hạnh phúc, đến tháng 4 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến, nên chị M và anh H sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị M và anh H không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2020. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị M và anh H không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm tr ng. Chị M yêu cầu được ly hôn; anh H yêu cầu được đoàn tụ không thống nhất ly hôn.
Xét thấy: anh H cho rằng anh còn thương chị M và thương con, nên không thống nhất ly hôn, nhưng từ khi sống ly thân cho đến nay, anh H không chủ động gặp chị M để bàn bạc về việc đoàn tụ, mà mâu thuẫn ngày càng trầm tr ng hơn, hiện nay hôn nhân của chị M và anh H đã lâm vào tình trạng trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị M và anh H không còn khả năng để đoàn tụ. Vì vậy, anh H yêu cầu được đoàn tụ là không có căn cứ để chấp nhận; chị M yêu cầu được ly hôn với anh H là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị M được ly hôn với anh H.
Về con chung: trong thời gian chung sống chị Phạm Thị Ng c M và anh Trần Văn H có 02 người con chung tên Trần Phạm Diễm M, sinh ngày 19/02/2006 và Trần Phạm Diễm Q, sinh ngày 09/11/2016. Từ khi chị M và anh H sống ly thân cho đến nay chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và cháu Q. Chị M và anh H cùng thống nhất cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng cháu M và cháu Q cho đến khi cháu M và cháu Q thành niên; nguyện v ng của cháu M và cháu Q cũng muốn được tiếp tục sống chung với chị M; chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: việc chị M và anh H thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, việc thỏa thuận này cũng phù hợp với nguyện v ng của cháu M và cháu Q và đảm bảo quyền lợi về m i mặt của cháu M và cháu Q, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu M và cháu Q cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu M và cháu Q thành niên. Do chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh H, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: trong thời gian chung sống chị Phạm Thị Ng c M và anh Trần Văn H không có tài sản chung, chị M và anh H không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: trong thời gian chung sống chị Phạm Thị Ng c M và anh Trần Văn H không có nợ chung, chị M và anh H không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ng c M. Như đã nhận định ở phần trên, xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Phạm Thị Ng c M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị M được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002998 ngày 10 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Trần Văn H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ng c M.
1. Về hôn nhân: xử cho chị Phạm Thị Ng c M được ly hôn với anh Trần Văn H.
2. Về con chung: giao 02 cháu Trần Phạm Diễm M, sinh ngày 19/02/2006 và Trần Phạm Diễm Q, sinh ngày 09/11/2016 cho chị Phạm Thị Ng c M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu M và cháu Q thành niên. Anh Trần Văn H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh H, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Phạm Thị Ng c M và anh Trần Văn H không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Phạm Thị Ng c M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị M được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002998 ngày 10 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, như vậy chị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Trần Văn H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn chị Phạm Thị Ng c M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn anh Trần Văn H không có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Cù Lao Dung; - Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung; - UBND xã T, huyện T; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Liên Lâm Anh Thảo |