- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Chia di sản thừa kế"
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/DS-ST Ngày: 01/03/2021. V/v: Chia di sản thừa kế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hà
- Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Dũng Tấn, Trịnh Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng, Thư ký Tòa án huyện Thiệu Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa: Bà Hoàng Thị M - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 03 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnThiệu Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/DSST ngày 26/10/2020 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”. Theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐST/DS, ngày 12 tháng 01 năm 2021 và quyết Đ hoản phiên tòa số 01/2021/QĐST- DS 02 tháng 02 năm 2021, giữa:
- Nguyên đơn: Dương Thị S– sinh năm 1966 Trú tại: Thôn Lý Yên, thị trấn Quán L, huyện Yên Đ. tỉnh Thanh Hóa
Đồng bị đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1965, ông Dương Văn Tịch,
sinh năm 1969, Đều trú tại: Thôn 3 Thành đạt, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Dương Thị S – sinh năm 1960 Trú tại: Thôn Lý Yên, thị trấn Quán L, huyện Yên Đinh, tỉnh Thanh Hóa.
- Dương Văn Đ – sinh năm 1972 Trú Tại: Thôn 3, Thành Đạt, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
- Bà Dương Thị T – sinh năm 1976 Trú tại: Thôn Đông Hòa, xã Thiệu D, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa,
- Bà Dương Thị M – Sinh Năm 1981 Trú tại: Thôn Bài, xã Anh S, huyện tĩnh Gia , tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Dương Thị Strình bày. Bố bà là Dương Văn T, sinh năm 1932( chết ngày 06/12/2019) mẹ là Lê Thị X, sinh năm 1932( chết ngày 07/01/2017) ông, bà sinh được 7 người con gồm:
1. Bà Dương Thị S, sinh năm1960.
2. Ông Dương Văn T, sinh năm 1965.
3. Bà Dương Thị S, sinh năm 1966.
4. Ông Dương Văn Tịch, sinh năm 1969.
5. Ông Dương văn Đ, sinh năm 1972.
6. Bà Dương Thị T, sinh năm1976.
7. Bà Dương Thị M, sinh năm 1981.
Tại đơn khởi kiện về việc chia di sản thừa kế viết ngày 01 tháng 10 năm 2020 bà S yêu cầu chia di sản thừa kế gồm các di sản sau:
1/ Mảnh đất Ta nhất: Ta đất số 1184-1, tờ bản đồ số 10, diện tích 272,2 m2 địa chỉ tại Thôn Thành Đạt, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ( theo giấy chứng nhận câó năm 2018) thuộc một phần của Ta đất 1184, tờ bản đồ số 10, diện tích 582.8m2 (Theo hồ sơ địa chính năm 2013) đất thổ cư chủ sử dụng đứng tên ông Dương Văn T.
2/ Mảnh đất thứ 2: Tờ bản đò số 03, số Ta 244, diên tích 200m2 đất ở x 500.000đ = 100.000.000đ, địa chỉ tại Thôn Thành Đạt, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa giấy chứng nhận đứng tên ông Dương Văn T. .
3/ Năm 2019 bố bà là ông Dương Văn T chết là đối tượng có huân huy chương, được hưởng tiền mai táng phí là 14.900.000đ. do anh em mất đoàn kết không thống nhất được về việc phân chia số tiền này. Số tiền này chưa giao cho ai, hiện nay Phòng lao động thương binh xã hội UBND huyện Thiệu Hóa đang quản lý.
Ngày 26 tháng 10 năm 2020 bà S thay đổi yêu cầu khởi kiện về việc chia di sản thừa kế, không yêu cầu chia hai mảnh đất trên khi nào có yêu cầu sẽ làm đơn khởi kiện thành vụ án khác, chỉ yêu cầu Tòa án chia số tiền mai táng phí là 14.900.000đ của bố bà là ông Dương Văn T chết để lại, chia đều cho 7 người con của ông, mỗi người được hưởng là 2.128.000đ.
Quá trình tham gia tố tụng đồng bị đơn là ông Dương Văn T và ông Dương Văn Tịch trình bày:
Bố các ông là Dương Văn T, ông chết năm 2019. Do bố ông là đối tượng có hưởng huân huy chương nên được hưởng số tiền mai táng phí là 14.900.000đ
( Mười bốn triệu chín trăm ngàn đồng), nay bà Dương Thị Syêu cầu chia số tiền trên cho các con của ông Dương văn T.
Quan điểm của ông Dương Văn T và ông Dương Văn Tịch không nhất trí chia, nguyện vọng để lại số tiền này làm kinh phí sang mộ cho bố ông.
Quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Dương Văn Đ, bà Dương Thị S, bà Dương Thị T và bà Dương Thị M trình bày:
Năm 2019 bố các ông ,bà là ông Dương Văn T chết là đối tượng có huân huy chương, được hưởng số tiền mai táng phí là 14.900.000đ. do anh em mất đoàn kết không thống nhất được về việc phân chia số tiền này.
Ông Dương văn Đ, bà Dương Thị S, bà Dương Thị T và bà Dương Thị M thống nhất như ý kiến trình bày của nguyên đơn yêu cầu tòa án huyện Thiệu Hóa chia số tiền là 14.900.000đ của bố các ông bà chết để lại chia cho 7 người con, mỗi người được hưởng = 2.128.000đ, ông Dương Văn Đ, bà Dương Thị S, bà Dương Thị T và bà Dương Thị M nhất trí nhận phần mình được hưởng.
Tại công văn số 02/ CV- LĐTBXH ngày 07-01-2021 về Phúc đáp công văn số 26B ngày 22-12-2020 của nhân dân huyện Thạnh Hóa Phòng lao động thương binh xã hội huyện Thiệu Hóa có ý kiến.
Theo chỉ đạo của sở lao động thương binh xã hội tỉnh Thanh Hóa, Phòng lao động thương binh xã hội huyện Thiệu Hóa đề nghị tòa án gửi cho phòng bản án phân chia tiền của vụ án, số tiền này sẽ được chi trả khi bản án của tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa có hiệu lực pháp luật.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa có quan điểm:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa xét xử, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy Đ của pháp luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa không có yêu cầu hoặc kiến nghị gì cần khắc phục vi phạm về tố tụng.
Ông ông Dương Văn T và ông Dương Văn Tịch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do căn cứ điều 227 của BLTTDS, Đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên theo thủ tục chung.
Về hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị, áp dụng: Khoản 5 Điếu 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 609, điều 623, điều 649, điều 650, điều 651 của Bộ luật dân sự
Đề nghị, chấp nhận yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn, hàng thừa kế thứ nhất có 7 người, di sản được chia đều thành 7 phần, mỗi phần được hưởng = 2.128.000đ.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên toà căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện các chứng cứ, nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng nghe các đương sự trình bầy quan điểm sau cùng, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về Tố Tụng
Về sự vắng mặt của các đương sự:
Bà Dương Thị S, bà Dương Thị T và bà Dương Thị M có đơn xin vắng măt, ông Dương Văn T, Dương Văn Tịch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, vì vậy căn cứ điều 227, điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên theo thủ tục chung.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo khoản 5 điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thời điểm mở thừa kế: ông Dương văn T chết ngày 06/12/2019, do vậy thời điểm mở thừa kế của ông Dương văn T là ngày 06/12/2019.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 01 tháng 10 năm 2020 nguyên đơn có đơn khởi kiện yếu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương văn T, như phân tích về thời điểm mở thừa kế nêu trên, căn cứ điều 623 của Bộ luật dân sự 2015 thì yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Dương văn T còn trong thời hiệu khởi kiện.
Ông Dương văn T chết không để lại di chúc, có tranh chấp nên di sản của ông để lại được chia theo pháp luật theo quy Đ tai chương XXIII Bộ luật dân sự.
Tại đơn khởi kiện về việc chia di sản thừa kế viết ngày 01/10/2020 bà Dương Thị Syêu cầu chia gồm các di sản sau:
1/ Mảnh đất thứa nhất: Ta đất số 1184-1, tờ bản đồ số 10, diện tích 272,2 m2 địa chỉ tại Thôn Thành Đạt, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ( theo giấy chứng nhận câó năm 2018) thuộc một phần của Ta đất 1184, tờ bản đồ số 10, diện tích 582.8m2 (Theo hồ sơ địa chính năm 2013) đất thổ cư chủ sử dụng đứng tên ông Dương Văn T.
2/ Mảnh đất thứ 2: Tờ bản đò số 03, số Ta 244, diên tích 200m2 đất ở x 500.000đ = 100.000.000đ, địa chỉ tại Thôn Thành Đạt, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa giấy chứng nhận đứng tên ông Dương Vân T. .
3/ Năm 2019 bố bà là ông Dương Văn T chết là đối tượng có huân huy chương, được hưởng tiền mai táng phí là 14.900.000đ. do anh em mất đoàn kết không thống nhất được việc phân chia số tiền này. Nên bà đề nghị chia .
Ngày 26 tháng 10 năm 2020 bà Dương Thị Sthay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu chia hai mảnh đất nêu trên ( 1 và 2 ) khi nào có yêu cầu sẽ làm đơn khởi kiện thành vụ án khác, chỉ yêu cầu Tòa án chia số tiền số tiền mai táng phí là 14.900.000đ của bố bà là ông Dương Văn T chết để lại (yêu cầu thứ 3 ), chia đều cho 7 người con của ông, mỗi người được hưởng là 2.128.000đ. Bà Dương Thị Sđã nạp tạm ứng án phí đối với yêu cầu chia số tiền mai táng phí.
Căn cứ đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 26 tháng 10 năm 2020 Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu chia số tiền mai táng phí là 14.900.000đ của bố bà là ông Dương Văn T chết để lại theo nguyện vọng của nguyên đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu chia di sản của bà Dương Thị S:
Ông Dương văn T chết không để lại di chúc, các con của ông không thỏa thuận giải quyết với nhau được dẫn đến tranh chấp, nguyên đơn Dương Thị Svà những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Dương văn Đ, Dương Thị S, Dương Thị T và Dương Thị M có yêu cầu chia số tiền mai táng phí là 14.900.000đ của bố bà là ông Dương Văn T chết để lại; đồng bị đơn là ông Dương Văn T và ông Dương Văn Tịch không nhất trí chia, có quan điểm muốn để lại số tiền này làm kinh phí lo sang mộ cho bố, Nếu anh, chị em trong nhà thỏa thuận được với nhau điều này là tốt. Nhưng do không thể thống nhất được vẫn có tranh chấp yêu cầu chia, việc sang mộ cho ông Dương Văn T đang còn trong tương lai, do vậy, quan điểm của ông T và ông Tịch không được chấp nhận. Nếu có việc sang mộ cho ông T thì lúc đó anh chị em góp lại cùng nhau lo công việc cho ông Dương Văn T. Từ đó cho thấy, yêu cầu của bà Dương Thị Skhởi kiện chia di sản của bố để lại, theo quy Đ tại các điều 609, điều 649, điều 650 của Bộ luật dân sự yêu cầu của bà Dương Thị Scó căn cứ được chấp nhận.
Quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa các đương sư đều khẳng Đ. Ông Dương Văn T chết đã được các con cháu trong gia đình lo ma chay đầy đủ chu đáo và đã được thanh toán gọn, không còn vướng mắc lại phần gì cần phải trích ra để thanh toán. Do vậy, số tiền mai táng phí này được giữ nguyên để chia cho các đương sự theo yêu cầu.
Về diện được hưởng thừa kế và kỹ phần được chia.
Ông Dương Văn T chết không để lại di chúc nên di sản được phân chia theo pháp luật, diện thừa kế theo hàng thứ nhất gồm:
Bà Dương Thị S, Ông Dương Văn T, Ông Dương Văn Tịch, Bà Dương Thị S, ông Dương Văn Đ, Bà Dương Thị T, Bà Dương Thị M.
Hàng thừa kế thứ nhất có 7 người, di sản được chia thành 7 phần, mỗi phần được hưởng = 2.128.000đ
Số tiền này hiện nay Phòng lao động thương binh xã hội UBND huyện Thiệu Hóa đang quản lý sẽ được chi trả khi có bản án của tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa như ý kiến của Phòng lao động thương binh xã hội huyện Thiệu Hóa thể hiện tại công văn số 02/ CV- LĐTBXH ngày 07-01-2021 về việc phúc đáp công văn số 26b ngày 22-12-2020 của nhân dân huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa .
Về án phí: Các đương sự được hưởng di sản có giá trị dưới 6.000.000đ nên mỗi người phải nộp án phí chia di sản là 300.000đ.
Từ các lẽ trên.
QUYẾT Đ
Áp dụng: Khoản 5 điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 609, điều 623, điều 649, điều 650, điều 651 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 điều 147, điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và Lệ phí; khoản 1 điều 24, điểm a khoản 7 điều 27, nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy Đ về án phí, lệ phí của Tòa án. Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiên của bà Dương Thị S.
Xác nhận: Ông Dương Văn T chết để lai di sản là số tiền mai táng phí 14.900.000đ (Mười bốn triệu.chín trăm ngàn đồng )
Chia di sản thừa kế của ông Dương Văn T cho 7 người con của ông gồm Bà Dương Thị S, Ông Dương Văn T, Ông Dương Văn Tịch, Bà Dương Thị S, ông Dương văn Đ, Bà Dương Thị T, Bà Dương Thị M, mỗi người được hưởng là 2.128.000đ ( Hai triệu môt trăm hai tám ngàn đồng).
Các đương sự liên hệ với Phòng lao động thương binh xã hội huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa để nhận số tiền được hưởng.
3- Về án phí:
Bà Dương Thị S, Ông Dương Văn T, Ông Dương Văn Tịch, Bà Dương Thị S, ông Dương văn Đ, Bà Dương Thị T, Bà Dương Thị M mỗi người phải nộp án phí sơ thẩm số tiền là 300.000đ.
Tiền tạm ứng án phí bà Dương Thị Sđã nạp theo biên lai AA/2017/0005822 ngày 26 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thiệu Hoá số tiền là 372.500đ ( Ba trăm bảy hai nghìn năm đồng) được trừ vào án phí cho bà S, trả lại cho bà S tiền tam ứng án phí còn thừa số tiền là 72.500đ ( bảy hai nghìn năm đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy Đ tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại điều 6, 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, tuyên bố các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKS Thiệu Hoá - Các đương sự - Thi hành án - Giám đốc án - Lưu hồ sơ | T/M. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán Lê Văn Hà |