vanban.org

Bản án 01/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th đối với bị đơn anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V.

Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả cho ông Nguyễn Văn Th và bà Ngô Thị Nh số tiền 100.000.000đồng (Một"trăm"triệu"đồng)." Nếu anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V chậm trả số tiền nêu trên thì anh D và chị V còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th đối với bị đơn anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐĂK NÔNG
Bản án số: 01 /2021/DS-ST
Ngày 30/3/2021

“V/v"Tranh"chấp"Hợp"đồng" vay"tài"sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Phan Long Ca.

Các"hội"thẩm"nhân"dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Nguyễn Đăng Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu SMi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Ứng – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2020/TLST-DS, ngày 26/6/2020 về việc:“Tranh"chấp"hợp"đồng"vay"tài"sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST-DS, ngày 27/11/2020 giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn Đăk R’, xã Quảng T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Phạm Quang D, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn Đăk R’T, xã Quảng T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N – Vắng mặt không có lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Ngô Thị Nh, sinh năm 1960 (vợ ông Th). Địa chỉ: Thôn Đăk R’T, xã Quảng T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N -"Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2/ Chị Hoàng Thị V (vợ anh D), sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn Kiến Đ, huyện Đăk R’L, tỉnh Đăk N - Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*" Theo" đơn" khởi" kiện" ngày" 15/6/2020" và" trong" quá" trình" giải" quyết" vụ" án" cũng"như"tại"phiên"tòa"nguyên"đơn"ông"Nguyễn"Văn"Th"trình"bày:

Vào ngày 13 tháng 9 năm 2014 (AL) tức trùng ngày 06 tháng 10 năm 2014 (DL) vợ chồng anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V có đến hỏi vay của tôi số tiền 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng) hẹn cuối năm thì trả lãi một lần. Còn tiền gốc thì vẫn tiếp tục cho anh D vay, khi nào cần thì tôi sẽ thông báo trước cho anh D và anh D sẽ trả.

Thời gian đầu anh Phạm Quang D và vợ Hoàng Thị V trả lãi rất đầy đủ và trả cho đến hết tháng 2 năm 2018 (AL) tức trùng ngày 15 tháng 4 năm 2018 (DL). Còn từ tháng 3 năm 2018 (AL) tức trùng ngày 16 tháng 4 năm 2018 (DL) cho đến nay thì vẫn chưa trả lãi cho tôi, mặc dầu tôi đã đòi nhiều lần nhưng anh D và chị V vẫn không trả.

Nay tôi làm đơn này yêu cầu tòa án buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả cho tôi số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng) và tôi không yêu cầu tính lãi suất.

* Bị đơn anh Phạm Quang D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đăk R’T, xã Quảng T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N. Tuy nhiên, qua xác minh tại chính quyền địa phương được biết anh Phạm Quang D đã bỏ đi khỏi địa phương hiện nay không rõ đang làm gì, ở đâu, khi đi không báo cho chính quyền địa phương biết. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an xã Quảng T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N, tuy nhiên anh Phạm Quang D đã bỏ đi khỏi địa phương, khi đi không đến Công an xã làm thủ tục tạm vắng nên hiện tại chính quyền địa phương không biết anh Phạm Quang D hiện nay đang ở đâu, làm gì. Đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự 2015 quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có nghĩa vụ liên quan nhưng cố tình giấu địa chỉ thì tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Như vậy việc anh Phạm Quang D bỏ đi khỏi địa phương, khi đi không đến Công an xã làm thủ tục tạm vắng đã vi phạm khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án xác định anh Phạm Quang D cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ vắng mặt của bị đơn và biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả số tiền gốc 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng) không yêu cầu tính lãi suất.

* Quan điểm của Viện kiểm sát: Thẩm phán thiết lập hồ sơ đúng trình tự theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử đúng thành phần; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Áp dụng Điều 471; Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Th.

Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải liên đới trả cho ông Nguyễn Văn Th và bà Ngô Thị Nh số tiền gốc 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng).""

Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th về việc rút phần lãi suất từ ngày 16 tháng 4 năm 2018 cho đến ngày 30 tháng 3 năm 2021.

Áp dụng Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất chậm thi hành án kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí: Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm"triệu"đồng); Trả lại cho ông Nguyễn Văn Th số tiền 2.500.000 đồng (Hai"triệu"năm"trăm"nghìn"đồng)"ông Nguyễn Văn Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001187, ngày 23/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N.

"

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th và bị đơn anh Phạm Quang D. Bị đơn anh Phạm Quang D cư trú tại thôn Đăk R’T, xã Quảng T, huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và tống đạt các thủ tục tố tụng hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn lên làm việc. Tuy nhiên bị đơn, người có nghĩa vụ liên quan đã bỏ đi khỏi địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết. Như vậy, trường hợp của anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V là cố tình giấu địa chỉ. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng đối với anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V theo thủ tục chung của pháp luật. Do bị đơn anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V vắng mặt, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không hòa giải được. Anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên Tòa án quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:"Vào ngày 13 tháng 9 năm 2014 (AL) tức trùng ngày 06 tháng 10 năm 2014 (DL) vợ chồng anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V có đến hỏi vay của ông Th số tiền 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng) hẹn cuối năm thì trả lãi một lần. Còn tiền gốc thì vẫn tiếp tục cho anh D vay, khi nào cần thì sẽ thông báo cho anh D trước.

Thời gian đầu anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V trả lãi rất đầy đủ và trả cho đến hết tháng 2 năm 2018 (AL) tức trùng ngày 15 tháng 4 năm 2018 (DL). Còn từ tháng 3 năm 2018 (AL) tức trùng ngày 16 tháng 4 năm 2018 (DL) cho đến nay thì vẫn chưa trả lãi, mặc dầu ông Th đã đòi nhiều lần nhưng anh D và chị V vẫn không trả.

Nay ông Th làm đơn yêu cầu tòa án buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả cho ông Th số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.

Nhận định của Hội đồng xét xử:

[4] Xuất phát từ hợp đồng vay tài sản anh Phạm Quang D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ cho ông Nguyễn Văn Th. Tại giấy thỏa thuận ngày 13 tháng 9 năm 2014 (AL) tức trùng ngày 06 tháng 10 năm 2014 (DL) anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V có vay của ông Th số tiền 100.000.000 đồng (Một" trăm" triệu" đồng) hẹn cuối năm thì trả lãi một lần. Thời gian đầu anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V trả lãi rất đầy đủ và trả cho đến hết tháng 2 năm 2018 (AL) tức trùng ngày 15 tháng 4 năm 2018 (DL). Còn từ tháng 3 năm 2018 (AL) tức trùng ngày 16 tháng 4 năm 2018 (DL) cho đến nay thì vẫn chưa trả lãi, mặc dầu ông Th đã đòi nhiều lần nhưng anh D và chị V vẫn không trả.

Nay ông Th làm đơn yêu cầu tòa án buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả cho ông D số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (Một"trăm"triệu"đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 100.000.000 đồng mà không yêu cầu Tòa án tính lãi suất số tiền vay kể từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay là sự tự nguyện của ông Th nên cần chấp nhận.

Vì vậy đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th về việc rút phần lãi suất từ ngày 16 tháng 4 năm 2018 cho đến ngày 30 tháng 3 năm 2021.

Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th. Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả cho ông Nguyễn Văn Th và bà Ngô Thị Nh số tiền 100.000.000đồng (Một"trăm" triệu"đồng)."

[5] Về án phí: Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Nguyễn Văn Th số tiền 2.500.000 đồng (Hai"triệu"năm"trăm"nghìn" đồng)"ông Nguyễn Văn Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001187, ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N.

Vì"các"lẽ"trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 357; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th đối với bị đơn anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V.

Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải trả cho ông Nguyễn Văn Th và bà Ngô Thị Nh số tiền 100.000.000đồng (Một"trăm"triệu"đồng)."

Nếu anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V chậm trả số tiền nêu trên thì anh D và chị V còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th về việc rút phần lãi suất từ ngày 16 tháng 4 năm 2018 cho đến ngày 30 tháng 3 năm 2021.

2. Về án phí: Án phí dân sự là 5.000.000 đồng (Năm"triệu"đồng); Buộc anh Phạm Quang D và chị Hoàng Thị V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm"triệu"đồng); Trả lại cho ông Nguyễn Văn Th số tiền 2.500.000 đồng (Hai"triệu"năm"trăm"nghìn"đồng)"ông Nguyễn Văn Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001187, ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đ, tỉnh Đăk N.

3. Nguyên đơn, Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn, Người có nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

4."Trường"hợp"bản"án,"quyết"định"được"thi"hành"theo"quy"định"tại"Điều"2"Luật"Thi" hành"án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án"dân"sự"có" quyền"thỏa"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi"hành"án"hoặc"bị" cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"6,"7"và"9"Luật"thi"hành"án"dân"sự;"thời" hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại"Điều"30"Luật"Thi"hành"án"dân"sự."

"

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ