- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Minh T đưa ra xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/201…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN _____________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HSST Ngày 06/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG – TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Quyết Thắng
+ Ông Nguyễn Quốc Doanh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/1/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, Tòa án nhân dân huyện Văn Giang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 37/2019/HSST ngày 19/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/HSST ngày 24/12/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Minh T – Sinh năm: 1993
Nơi đăng ký HKTT: Thôn SK 2, xã SK, thành phố BG, tỉnh BG.
Trú tại: Thôn VT, xã LN, huyện VG, tỉnh HY.
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bố: Đào Văn L – SN: 1969; Mẹ: Lý Thị Đ - SN: 1974
Gia đình có 2 anh em, bị cáo là lớn
Tiền án, tiền sự: Chưa có
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2019 đến ngày 21/11/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Giang. Theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Anh Vũ Quang C – Sinh năm: 1982
Trú tại: Thôn HT, xã MS, huyện VG, tỉnh HY
- Anh Văn Đình T1 – Sinh năm: 1994
Trú tại: Ấp ĐP, xã TT, huyện VG, tỉnh HY
* Tại phiên tòa, tất cả người làm chứng đều vắng mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo Đào Minh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 15/11/2019, tại thôn HT, xã MS, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Giang bắt quả tang Đào Minh T có HKTT tại thôn SK 2, xã SK, thành phố BG, tỉnh BG, hiện trú tại thôn VT, xã LN, huyện VG, tỉnh HY có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Khi bị bắt, T đã vứt 01 gói nilon màu trắng kích thước 2,5cm x 1,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng xuống nền đường cách vị trí T đứng khoảng 60cm bằng tay phải, gói nilon trên đã được cơ quan điều tra thu giữ ký hiệu M. Quá trình kiểm tra trên người T, đã thu giữ tại túi quần bên trái phía trước 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng, trong khe sim có 01 sim.
Cùng ngày 15/11/2019, cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Minh T tại thôn VT, xã LN, huyện VG nhưng không thu giữ được gì.
Ngày 18/11/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên giám định và kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M có khối lượng là 0,198g là ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Đào Minh T khai: Do nghiện các chất ma túy, biết đối tượng nam thanh niên tên D ở thôn HT, xã MS, huyện VG bán ma túy. Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 15/11/2019, T đi bộ từ nhà anh Phạm Minh T2 ở thôn VT lên đê Văn Giang thuộc địa phận thôn Phi Liệt, xã Liên Nghĩa, huyện Văn Giang vẫy xe taxi do anh Văn Đình T1 điều khiển để đến thôn HT. T không nói cho anh T1 biết đến thôn HT để làm gì.
Khi đến thôn HT, T đi bộ vào trong ngõ hỏi D “anh có hàng không để cho em 200”, D gật đầu. T đưa cho D 200.000đ và D đưa cho T 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy dạng đá, T cầm gói ma túy ở tay phải đi trên đường thôn HT thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, T đã vứt gói ma túy từ tay phải xuống đường cách vị trí T đứng khoảng 60cm. Lực lượng Công an đã thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng có liên quan.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSVG ngày 18/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Văn Giang truy tố bị cáo Đào Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với bản Cáo trạng và lời Luận tội của đại diện Viện kiểm sát, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Văn Giang tham gia phiên tòa có quan điểm xác định sự vắng mặt của những người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng tới việc xét xử bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tiếp tục xét xử vụ án. Kết thúc phần xét hỏi, đai diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, phân tích tính nguy hiểm của tội phạm do bị cáo gây ra, hậu quả của hành vi đối với xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Đào Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Minh T 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15/11/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu hủy bỏ phong bì niêm phong ký hiệu M hoàn lại sau giám định.
- Trả lại bị cáo Đào Minh T chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone màu vàng bên trong khe sim có lắp một sim mặt sau sim có số 8984/04800/00334/49724.
Về án phí: Bị cáo Đào Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX Tòa án nhân dân huyện Văn Giang nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, VKSND huyện Văn Giang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng trong vụ án, HĐXX thấy rằng: Quá trình điều tra người làm chứng đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo cũng như đối với quyền lợi của họ. Vì vậy HĐXX quyết định xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố:
Lơi khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng trong vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Biên bản tạm giữ đồ vật và vật chứng được thu giữ; Kết luận giám định. Như vậy, HĐXX đã đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 13 giờ 40 phút ngày 15/11/2019, tại thôn HT, xã MS, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang bắt quả tang Đào Minh T có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,198 gam, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Nên hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,198 gam ma túy loại Methamphetamine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Cáo trạng truy tố của VKSND huyện Văn Giang là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó việc áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, vai trò, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, HĐXX xét thấy: Bị cáo còn trẻ biết rõ tác hại của ma túy, biết rõ việc tàng trữ trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng không nghiêm khắc với bản thân coi thường pháp luật để thỏa mãn nhu cầu cá nhân sử dụng ma túy rồi mua ma túy tàng trữ để sử dụng, hành vi của bị cáo là cố ý phạm tội nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cộng đồng và làm bài học ngăn ngừa tội phạm chung cho mọi người.
Đối với đối tượng tên D bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân, địa chỉ của người này tại xã MS nhưng không có đối tượng nào tên D có những đặc điểm như bị cáo khai, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Anh Văn Đình T1 là lái xe taxi chở T đến thôn HT, xã MS, huyện VG nhưng không biết mục đích bị cáo đến đó làm gì, nên không đặt ra xem xét xử lý.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo trước khi bị bắt không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, không có tài sản tích lũy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- 0,172 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong ghi M là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng bên trong khe sim có nắp một sim mặt sau sim có số 8984/04800/00334/49724 quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên bố: Bị cáo Đào Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
3. Xử phạt bị cáo Đào Minh T 01(một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15/11/2019.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
5. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy 0,172 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định trong niêm phong ghi M.
- Trả lại bị cáo Đào Minh T 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng bên trong khe sim có lắp một sim mặt sau sim có số 8984/04800/00334/49724
(Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/12/2019 giữa Công an huyện Văn Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang).
6. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND huyện Văn Giang; - Công an huyện Văn Giang; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Văn Giang; - UBND xã Song Khê, TP.Bắc Giang - Những người tham gia tố tụng ; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Vũ Thu Giang |