vanban.org

Bản án 01/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Khoan N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Khoan N 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi 06 (Sáu) ngày bị tạm giữ, kể từ ngày 06/12/2019 đến ngày 12/12/2019. Áp dụng: Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Khoan N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Khoan N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HSST
Ngày 27/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Đức Hoàn.

Ông Lê Trần Cảnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2020/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

- Lê Khoan N - Sinh ngày 10/7/1990 tại huyện NL, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn MT, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa, nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hồng Q và bà Nguyễn Thị H; vợ: Doãn Thị M; con: Có 02 con lớn 08 tuổi nhỏ 02 tuổi. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị tạm giữ ngày 06/12/2019 đến ngày 12/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Doãn Thị M - Sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn MT, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Trịnh Đình L - Sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn MC, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa, (Vắng mặt).

- Anh Lê Văn T - Sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn MT, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

- Anh Lê Hồng T - Sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn CT, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

- Anh Phạm Công H - Sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn QP, xã QT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 06/12/2019 tại thôn MC, xã MS, huyện NL. Tổ công tác Công an huyện Ngọc Lặc phát hiện, bắt quả tang Lê Khoan N, Lê Văn T và Lê Hùng T đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ gồm: 01 (một) gói giấy có chứa chất bột màu trắng trong tay trái của T, 01 xe môtô Wave S, biển kiểm soát 36B1-457.93 do Lê Văn T điều khiển; 01 (một) điện thoại NOKIA 110 màu đen của Lê Văn T. Thu giữ trong tay trái của Lê Khoan N 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 03 (ba) ống nước cất và 01 (một) xi lanh thu được trong túi quần bên phải của N đang mặc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen và 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Sirius, BKS: 36B2-556.07.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Khoan N, Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng có liên quan đến vụ án.

Đấu tranh khai thác các đối tượng khai nhận: Khoảng 14 giờ, ngày 06/12/2019, Lê Văn T gặp Lê Hùng T, tại khu vực ngã tư thuộc phố Lê Duẩn, thị trấn Ngọc Lặc. Do đều là người nghiện ma túy, chơi với nhau từ trước nên T rủ Tuyển tìm mua ma túy để sử dụng. T sử dụng điện thoại của mình gọi điện cho Lê Khoan N hỏi Nhi có ma túy không, bán lại cho T 200.000đ. N đồng ý và hẹn T đến khu vực chợ phố Châu thuộc địa phận thôn Minh Châu 2, xã Minh Sơn, huyện Ngọc Lặc để giao ma túy. T bảo T giao xe môtô BKS: 36B1-457.93 cho T điều khiển chở T đi đến chỗ hẹn. Trên đường đi T đưa cho T 200.000 đồng và dặn T gặp người bán ma túy thì đưa tiền và nhận ma túy. Đến địa điểm đã hẹn, nhìn thấy N, T dừng xe, T ngồi phía sau xe đưa 200.000 đồng cho N và nhận của N 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chưa heroin. thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong để gửi giám định.

Quá trình bắt quả tang Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng thu được trên tay trái của Lê Hùng T, được đóng phong bì niêm phong ký hiệu M1.

Tại bản kết luận giám định số 171/PC09 ngày 09/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận “Chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,062g (không phảy không sáu hai gam) loại Heroine”.

Số ma túy mà N bán cho T, N khai nhận mua tại huyện Mường Lát của một người đàn ông lạ mặt, không biết tên tuổi và địa chỉ (N không nhớ rõ thời gian và địa điểm cụ thể) với số tiền 1.000.000đ. N đem về chia thành nhiều gói nhỏ cất giữ để sử dụng còn 01 gói bán lại cho Thắng để kiếm lời.

Hành vi mua Heroine mục đích để sử dụng của đối tượng nghiện Lê Văn T và Lê Hùng T quá trình điều tra xác định chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngọc Lặc đã xử lý hành chính đối với Lê Văn T và Lê Hùng T.

Vật chứng vụ án gồm: Số tiền 200.000 đồng đã chuyển đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự tại Kho bạc huyện Ngọc Lặc, để chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Mẫu vật còn lại sau giám định 0,052g (không phẩy không năm hai gam) Heroine; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1105, màu đen (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 110 màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng); 03 (ba) ống nước cất (chưa qua sử dụng); 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại xe Sirius màu đỏ đen, Biển kiểm soát 36B2-556.07. Số vật chứng này đã được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, chờ xử lý theo pháp luật.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave S. Biển kiểm soát 36B1-457.93. T mượn của anh Phạm Công H. Anh H không biết Tuyển mượn xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H.

Bản cáo trạng số 02 ngày 15/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc đã truy tố Lê Khoan N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251 các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Khoan N 24 đến 27 tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm, 03 ống nước cất và tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000đ và 02 chiếc điện thoại. Tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô theo phiếu nhấp kho số 002 ngày 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc và trả lại cho chị Doãn Thị M ½ giá trị chiếc xe theo kết quả xử lý vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, buộc bị cáo chịu án phí theo pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Doãn Thị M trình bày bị cáo Lê Khoan N và chị là quan hệ vợ chồng, chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại xe Sirius màu đỏ đen, Biển kiểm soát 36B2-556.07 là tài sản chung của chị và bị cáo, việc bị cáo sử dụng để bán ma túy chị không biết, chị đề nghị Tòa án giải quyết trả lại phần tài sản chung là giá trị chiếc xe cho chị theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng và thực hiện quyền, nghĩa vụ của Điều tra viên và Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật, không có trường hợp nào bị khiếu nại, hoặc bị tố cáo phải giải quyết.

. Về căn cứ định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng đã nêu, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/12/2019 Lê Khoan N đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, kết quả giám định có tổng khối lượng là 0,062g Heroin. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Khoan N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với Lê Văn T và Lê Hùng T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng khối lượng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Ngọc Lặc xử phạt hành chính là phù hợp.

. Về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma tuý, xuất phát từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý ảnh hưởng đến hạnh phúc của gia đình, nhiều gia đình tan vỡ và là nguyên nhân lây lan các bệnh dịch, tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ nòi giống của con người, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Để giữ nghiêm pháp luật và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có ông nội Lê Văn V, bà nội Nguyễn Thị Đ, bà Ngoại Nguyễn Thị L là người có công với cách mạng tham gia thanh niên xung phong và bố Lê Hồng Q tham gia cách mạng được tặng Kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người nghiện ma túy có nhân thân xấu, phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo cải tạo trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, nên áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo mức thấp nhất 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) là phù hợp với.

. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm, 03 ống nước cất và tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000đ và 02 chiếc điện thoại, theo phiếu nhập kho số 002 ngày 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda. Biển kiểm soát 36B1-457.93. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 36B2-556.07 là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Doãn Thị M được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nên mỗi người có quyền sở hữu ½ giá trị tài sản, bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, chị M không biết, nên sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe và trả lại cho chị M ½ giá trị chiếc xe theo kết quả xử lý vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo Lê Khoan N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Khoan N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Khoan N.

Xử phạt: Bị cáo Lê Khoan N 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi 06 (Sáu) ngày bị tạm giữ, kể từ ngày 06/12/2019 đến ngày 12/12/2019.

Áp dụng: Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo Lê Khoan N là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công qũy nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), theo phiếu ủy nhiệm chi chuyển khoản của Công an huyện Ngọc Lặc ngày 15/01/2020 chuyển đến tài khoản 3949.0.1055159 tại Kho bạc nhà nước huyện Ngọc Lặc của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc.

- Tịch Thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại NOKIA 110 màu đen, chiếc điện thoại di động NOKIA 105 màu đen.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe môtô BKS: 36B2-556.07 và trả lại cho chị Doãn Thị M ½ giá trị chiếc xe môtô BKS: 36B2-556.07, theo phiếu nhập kho số 002 ngày 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc và theo kết quả xử lý vật chứng của Chi cục Thi Hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Giấy đăng ký xe mô tô BKS 36B2-556.07 sẽ được chuyển cùng bản án đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Tịch thu tiêu huỷ là 0,052g Heroin còn lại sau giám định, 01 bơm kim tiêm, 03 ống nước cất, theo phiếu nhập kho số: NK 2020/002 ngày 16/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Khoan N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Khoan N và chị Doãn Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ này tuyên án 27/02/2020.

Cỡ chữ