vanban.org

Bản án 01/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 10/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận ngày 03/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong ra quyết định xử lý vật chứng số 45, trả lại 01 điện thoại di dộng (có đặc điểm như biên bản thu giữ) và số tiền 2.830.000 đồng cho Giàng A T không liên qua…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Thái - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 01/2020/HSST
Ngày 10-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hường và bà Đặng Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng – Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Bà Lang Thị Tố - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2019/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST - HS, ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

GIÀNG A T, sinh năm 1986 tại Điện Biên; nơi ĐKHKTT: Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên; chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: H’Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A P, sinh năm 1960 và bà Sùng Thị D (đã chết); có vợ là Sùng Thị G, sinh năm 1990 và có 04 con; bị bắt tạm giam ngày 19/9/2019 - có mặt.

Người làm chứng: Ông Thào A S, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn 3, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giàng A T trú tại thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 17/9/2019, tại nhà của mình, T mua ma túy của một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 3.000.000 đồng rồi chia nhỏ số ma túy này ra cất giấu, mục đích để S dụng và bán lại cho người khác kiếm lời.

Khoảng 14 giờ ngày 18/9/2019, Thào A S đến nhà T mua 01 gói ma túy với số tiền 100.000 đồng. Sau đó S mang ma túy đến thôn 7, xã Đắk R’Măng sử dụng thì bị Công an huyện Đắk Glong phát hiện và S khai mua ma túy của T. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ 02 gói nilon bên trong chứa chất rắn màu trắng.

Ngoài ra, Giàng A T còn khai nhận vào ngày 18/9/2019, T bán 14 gói ma túy cho một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 1.390.000 đồng. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ.

Vật chứng của vụ án: 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi là Heroine) ở trong túi vải trên đầu giường ngủ của Giàng A T, được niêm phong trong bì thư ký hiệu là A1; 01 gói nilon màu vàng, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi là Heroine) ở trong hộp giấy cuối giường ngủ của Giàng A T, được niêm phong trong bì thư ký hiệu là A2; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 4.320.000 đồng (trong đó 1.490.000 đồng Giàng A T khai do bán ma túy mà có); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH 1803 của Giàng A T.

Ngày 03/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 45, trả lại 01 điện thoại di dộng và số tiền 2.830.000 đồng cho Giàng A T do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 73/KLMT-PC09 ngày 25/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận như sau: Chất rắn màu trắng đựng trong bì thư ký hiệu A1 là ma túy, là Heroine, có khối lượng là 0,1846 gam; hoàn lại sau giám định là 0,1272 gam; chất rắn màu trắng đựng trong bì thư ký hiệu A2 là ma túy, là Heroine, có khối lượng là 1,7461 gam; hoàn lại đối tượng sau giám định là 1,3852 gam. Tổng khối lượng Heroine là 1,9307 gam.

Tại Cáo Trạng số 01/CT-VKS, ngày 18/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo Giàng A T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất mức độ, hành vi phạm tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước; chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong ra quyết định xử lý vật chứng số 45, trả lại điện thoại di dộng và số tiền 2.830.000 đồng cho Giàng A T; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.490.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy 1,5124 gam heroin hoàn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Khi nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong; Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Ngày 17/9/2019, Giàng A T mua Heroine của một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 3.000.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Khoảng 14 giờ ngày 18/9/2019, tại nhà ở Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T đã bán cho Thào A S 01 gói Heroine được số tiền 100.000 đồng để sử dụng. Qua khám xét nhà T thu giữ 1,9307 gam Heroine. Vì vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được mua bán chất ma túy trái phép bị pháp luật nghiêm cấm. Song do hám lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

Trong vụ án này có Thào A S là người nghiện, mua ma túy để sử dụng. Do không xác định được khối lượng Heroin nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định. Đối với người đàn ông mua ma túy của T với số tiền 1.390.000 đồng, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: chấp nhận ngày 03/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong ra quyết định xử lý vật chứng số 45, trả lại 01 điện thoại di dộng (có đặc điểm như biên bản thu giữ) và số tiền 2.830.000 đồng cho Giàng A T vì không liên quan đến vụ án; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.490.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy 1,5124 gam heroin hoàn lại sau giám định.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; các điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2019. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận ngày 03/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong ra quyết định xử lý vật chứng số 45, trả lại 01 điện thoại di dộng (có đặc điểm như biên bản thu giữ) và số tiền 2.830.000 đồng cho Giàng A T không liên quan đến vụ án; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.490.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy 1,5124 gam heroin hoàn lại sau giám định.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ