vanban.org

Bản án 01/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Tuyên án 28/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Củi Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Giàng Củi Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Củi Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Củi Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HSST
Ngày 28/02/ 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Đình Vi

Bà Trần Thị Xuân

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Đại diện VKSND huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST- HS ngày 14/02/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Củi Th; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999 tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Phù Lá; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Giàng Sín D, sinh năm 1965 (đã chết); Mẹ đẻ: Sải Vần H, sinh năm 1963, Trú tại: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Gia đình bị cáo có 06 chị em, bị cáo là con út trong gia đình.Vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà. Có mặt

* Bị hại: - Chị Ly Sín M - sinh ngày 01/9/2004 (đã chết)

- Anh Goàng Củi S - Sinh ngày 01/10/2001

Địa chỉ: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Ly Sín M - Ông Ly Xuấn S - Sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Sải Vần H - sinh năm 1963

Địa chỉ: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hà - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

* Những người làm chứng:

- Anh Ly Xuấn S - sinh năm 1989

- Anh Lùng Diu Ph - Sinh năm 1995

Cùng địa chỉ: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (vắng mặt không có lý do)

- Anh Tráng Sín L - sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn L Ph, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. (vắng mặt không có lý do)

* Người phiên dịch: Anh Giàng Củi S - Sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi chiều ngày 02 tháng 11 năm 2019, Giàng Củi Th sinh năm 1999 trú tại thôn T Ch, xã L Ph, huyện Bắc Hà đi sang nhà anh Sải Vần L sinh năm 1996 ở cùng thôn để dự đám cưới, ăn cơm, uống rượu tại đó. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Th một mình điều khiển xe mô tô HONDA Wave RSX, biển kiểm soát 24B2 - 01951 của gia đình đi từ nhà L ra quán bán đồ nướng của Thào Seo V, sinh năm 1994 ở khu vực UBND xã L Ph để ăn đêm. Đi được khoảng 50m thì phát hiện thấy Goàng Củi S sinh năm 2001, Ly Sín M sinh năm 2004 đều là người cùng thôn đang ngồi nói chuyện ở lề đường bên phải theo hướng đi, thuộc địa phận Km727 quốc lộ 4 xã L Ph đi xã L C, huyện Bắc Hà, Th điều khiển xe mô tô đi nhanh đến gần thì phanh xe lết trên mặt đường để trêu S và M rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đến quán của anh V uống hết hai lon bia cùng Giàng Củi Tr sinh năm 2001 trú tại thôn L Ph, xã L Ph và một số người khác. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Giàng Củi Th lại điều khiển xe mô tô từ quán anh V về nhà anh L do trời tối, có sương mù, tầm nhìn hạn chế, mặt đường ẩm ướt, Th điều khiển xe với vận tốc khoảng 50km/giờ, không làm chủ được tốc độ, đi lấn sang bên trái đường. Th không biết là S và M vẫn ngồi ở chỗ cũ, khi phát hiện thấy S, M ở khoảng cách gần, Th không kịp xử lý đã đâm vào giữa hai người, xe mô tô đổ xuống đường, đèn pha bị vỡ hoàn toàn. Th dựng xe lên, bật xi nhan để soi thấy S bị ngã nằm ở lề đường trái, M ngã nằm ra đường bất tỉnh, Th không gọi người đưa các nạn nhân đi cấp cứu mà đi xe thẳng về nhà ngủ. Một lúc sau có anh Ly Xuấn S, sinh năm 1989, trú tại thôn T Ch, xã L Ph đi bộ qua nhìn thấy và gọi người đưa S và M đi cấp cứu nhưng M đã tử vong trên đường đi cấp cứu. Còn S bị gẫy ½ răng cửa số 11 và trấn thương phần mềm, điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Bắc Hà đến ngày 07/11/2019 thì được ra viện. Đến chiều ngày 03 tháng 11 năm 2019 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà triệu tập đến làm việc Giàng Củi Th mới khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định pháp y về tử thi số 96/2019/BH- TTPY ngày 03 tháng 11 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đối với Ly Sín M, kết luận nguyên nhân chết: Ngừng hô hấp - tuần hoàn do gẫy đốt sống cổ 5, gẫy xương đùi phải.

Tại bản Kết luận định pháp y về thương tích số 179/2019/TgT- TTPY ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lào Cai đối với Goàng Củi S, kết luận: tổng mức tổn thương cơ thể là 02% (Hai phần trăm).

Tại kết luận giám định số 6687/C09 - P3 ngày 21/11/2019 của viện khoa học Hình sự - Bộ Công an kết luận: Mảnh nhựa vỡ thu ở hiện trường (ký hiệu A trong quá trình giám định) khớp với mảnh nhựa vỡ thu ở xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 01951 (ký hiệu M trong quá trình giám định)

- Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ:

+ 01 xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 01951 đây là chiếc xe Th điều khiển gây tai nạn và 01 đăng ký của xe mô tô số 034648 cũ đã qua sử dụng,

+ 06 mảnh nhựa vỡ không rõ hình dạng, kích thước khác nhau thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường, (trong quá trình giám đinh được đánh số thứ tự từ A, A1, A2, A3, A4, A5)

+ 05 mảnh nhựa vỡ, không rõ hình dạng, kích thước thu giữ trong quá trình khám nghiệm phương tiện là chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 24 B2 - 019.51 (trong quá trình giám định được đánh số thứ tự M, M1, M2, M3, M4)

Bản cáo trạng số: 01 /CT - VKS - BH ngày 17 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà truy tố bị cáo Giàng Củi Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Củi Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng Củi Th 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 04/11/2019.

Đối với bà Sải Vần H (mẹ của bị cáo Th) là người đã bỏ tiền ra mua xe mô tô 24B2- 019.51 về với mục đích phục vụ lao động sản xuất của gia đình. Hiện tại gia đình bà H chỉ có hai mẹ con sống cùng nhau, việc bà H đã cho bị cáo Th sử dụng xe mô tô để vận chuyển nông sản, phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày là hoàn toàn chính đáng. Bà H là người dân tộc thiểu số, tuổi đã cao, không được đi học, không hiểu biết pháp luật, ngày 02/11/2019 bà H không biết bị cáo Th đã sử dụng chiếc xe mô tô gây tai nạn, nên xét thấy không đề nghị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là hoàn toàn phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 bộ luật Tố tụng Hình sự:

+ 01 xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 01951 là vật chứng của án. Chiếc xe này là bà Sải Vần H đã bỏ ra số tiền 27.000.000 đồng từ năm 2018 để mua phục vụ lao động sản xuất của gia đình, tuy nhiên do bà H tuổi đã cao, không biết chữ nên đã nhờ con là Giàng Củi Th đứng tên đăng ký xe. Đây là tài sản hợp pháp nên cần trả lại cho bà H là phù hợp.

+ Đối với 01 Giấy đăng ký xe mô tô số 034648 là sở hữu hợp pháp của Giàng Củi Th nên trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với 11mảnh nhựa vỡ của xe mô tô không rõ hình dạng, kích thước khác nhau thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 24 B2 - 019.51. Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Giàng Củi Th đã tác động đến mẹ đẻ bà Sải Vần H hỗ trợ mai tang phí cho gia đình bị hại Ly Sín M 30.000.000 đồng, ngoài ra còn tác động bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, đến nay người đại điện hợp pháp của bị hại Ly Sín M là ông Ly Xuấn S không có yêu cầu gì nên không đề nghị giải quyết.

Bị hại anh Goàng Củi S bị thiệt hại 2% sức khỏe do hành vi phạm tội của bị cáo Th gây ra, tuy nhiên S không có yêu cầu gì, nên không đề nghị giải quyết.

Bà Sải Vần H là mẹ đẻ của bị cáo đã bỏ ra 30.000.000 đồng hỗ trợ cho gia đình nhà bị hại Ly Sín M tiền mai táng phí, ngoài ra còn thỏa thuận bồi thường tiền tổn thất về tinh thần số tiền 100.000.000 đồng đến nay bà không yêu cầu con trai mình phải trả số tiền mà bà đã bỏ ra nên không đề nghị giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng Củi Th nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai về tội danh truy tố và điều luật áp dụng đối với bị cáo, trình bày lời bào chữa, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự xét xử bị cáo 04 (Bốn) năm tù giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định. Khoảng 22 giờ ngày 02/11/2019 thuộc địa phận Km727 quốc lộ 4 xã Lùng Phình đi xã Lùng Cải, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai bị cáo Th không có giấy phép lái xe đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 - 01951 với vận tốc khoảng 50km/giờ, không làm chủ được tốc độ, đi lấn sang bên trái đường, khi phát hiện thấy anh S và chị M ngồi ở dệ đường với khoảng cách gần bị cáo không kịp xử lý đã đâm vào giữa hai người, sau khi gây tai nạn bị cáo đã dựng xe và bật đèn pha nhưng không sáng sau đó bật đèn xi nhan để soi, bị cáo nhìn thấy S và M nằm bất tỉnh và không có ai tại nơi sảy ra tai nạn, nên bị cáo đã đi xe về nhà không đi khai báo với cơ quan chức năng, nhằm trốn tránh trách nhiệm mà mình đã gây ra. Hậu quả của vụ tai nạn làm chị Ly Sín M chết trên đường đi cấp cứu, nguyên nhân chết do Ngừng hô hấp - tuần hoàn, gẫy đốt sống cổ 5, gẫy xương đùi phải và anh Goàng Củi S bị thương phải nằm bệnh viện điều trị đến ngày 07/11/2019 mới ra viện. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm vào khoản 9, khoản 17 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ cụ thể:

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm:

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

Điều 9. Quy tắc chung

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo khai trước khi gây tai nạn bị cáo đã uống rượu, bia tại đám cưới và quán ăn đêm. Tuy nhiên việc bị cáo gây tai nạn vào khoảng 22 giờ ngày 02/11/2019 đến 16 giờ 30 ngày 03/11/2019 mới được triệu tập đến cơ quan Công an để làm việc. Quá trình điều tra không làm rõ được bị cáo có nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, nên không có căn cứ để xử lý đối với bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định, không làm chủ được tốc độ, đi lấn sang phần đường ngược chiều, sau khi gây tai nạn bị cáo đã bỏ về nhà và không đi trình báo vụ việc của mình gây ra. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “ bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, áp dụng hình phạt tương xứng đúng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Giàng Củi Th có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực tác động đến gia đình để bồi thường cho gia đình người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại cũng có ý kiến đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Những chứng cứ buộc tội của Kiểm sát viên; chứng cứ gỡ tội của bị cáo, người bào chữa: Đều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận.

. Đối với người có liên quan trong vụ án: Bà Sải Vần H là mẹ đẻ của bị cáo trực tiếp bỏ số tiền 27.000.000 đồng để mua chiếc xe vào năm 2018, vì tuổi già không biết chữ và chỉ có hai mẹ con ở cùng nhau nên bà nhờ bị cáo đứng tên đăng ký xe, chiếc xe mua về là để phục vụ cho việc tăng gia sản xuất nông nghiệp của gia đình, việc bà H đã cho bị cáo sử dụng xe mô tô để vận chuyển nông sản, phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày là hoàn toàn chính đáng vì gia đình chỉ có hai mẹ con. Bà H là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, không hiểu biết pháp luật nên đã giao cho bị cáo xử dụng chiếc xe mô tô, ngày 02/11/2019 Th đã tự ý sử dụng xe mô tô và không nói với bà H bà H cũng không biết bị cáo Th đã sử dụng chiếc xe mô tô và gây tai nạn.Vì vậy không đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà H là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

.Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại anh Goàng Củi S không đề nghị bị cáo phải bồi thường về dân sự.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Ly Sín M, ông Ly Xuấn S đã nhận của gia đình bị cáo 30.000.000 đồng tiền mai táng và thỏa thuận với gia đình nhà bị cáo hỗ trợ thêm cho gia đình ông tiền tổn thất về tinh thần là 100.000.000 đồng hai bên đã thống nhất và lập biên bản tự thỏa thuận bồi thường ngày 17/11/2019 đến nay người đại điện hợp pháp của bị hại là ông Ly Xuấn S không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự.

Bà Sải Vần H là mẹ đẻ của bị cáo đã bỏ số tiền 30.000.000 đồng hỗ trợ cho gia đình nhà bị hại Ly Sín M về mai táng phí, ngoài ra còn thỏa thuận bồi thường tiền tổn thất về tinh thần số tiền 100.000.000 đồng đến nay bà không yêu cầu con trai mình phải trả số tiền mà bà đã bỏ ra.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án.

.Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2 - 01951 và 01 giấy đăng ký mô tô số 034648 mang tên Giàng Củi Th. Xét thấy việc tiếp tục tạm giữ vật chứng là không cần thiết, trả lại cho bị cáo Th 01 giấy đăng ký mô tô số 03464 cũ đã qua sử dụng; Qua điều tra xác minh chiếc xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 01951 là do bà H đã bỏ tiền ra mua để phục vụ sản xuất nông nghiệp của gia đình, nhưng nhờ con trai mình là Giàng Củi Th đứng tên đăng ký xe . Vì vậy trả cho bà Sải Vần H 01 xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 01951 cũ đã qua sử dụng là phù hợp.

Đối với 06 mảnh nhựa vỡ không rõ hình dạng, kích thước khác nhau thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường và 05 mảnh nhựa vỡ, không rõ hình dạng, kích thước thu giữ trong quá trình khám nghiệm phương tiện là chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 24 B2 - 019.51. Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

.Về án phí: Buộc bị cáo Giàng Củi Th phải chịu án phí vụ án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Củi Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng Củi Th 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/11//2019.

2. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Giàng Củi Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình Sự.

- Trả lại cho bị cáo Th 01 giấy đăng ký mô tô số 03464 mang tên Giàng Củi Th, cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bà Sải Vần H 01 xe mô tô HONDA Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 01951 xe cũ đã qua sử dụng không có gương chiếu hậu bị trầy xước nhiều chỗ.

- Tịch thu tiêu hủy 06 mảnh nhựa vỡ không rõ hình dạng, kích thước khác nhau thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường, (trong quá trình giám đinh được đánh số thứ tự từ A, A1, A2, A3, A4, A5) và 05 mảnh nhựa vỡ, không rõ hình dạng, kích thước thu giữ trong quá trình khám nghiệm phương tiện là chiếc xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 24 B2 - 019.51 (trong quá trình giám định được đánh số thứ tự M, M1, M2, M3, M4).

5. Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ