- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Thành - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 T PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HS-ST Ngày: 17-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, T PHỐ HỒ CHÍ MINH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Bà Tiêu Kim Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận
10, T phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, T phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình T; sinh năm: 1980 tại T phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: đường H, Phường T, Quận T, T phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn G và bà: Nguyễn Thị A (chết); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt giữ ngày: 26/10/2019.
(Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lưu Thị Mộng L – Sinh năm: 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường D, Phường C, Quận B, TP.HCM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/10/2019, tại hẻm 418 đường Lê Hồng Phong, Phường 1, Quận 10, T phố Hồ Chí Minh, tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 10 tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Đình T. Qua kiểm tra, thu giữ của T: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (T khai nhận đây là ma túy tổng hợp, để sử dụng), 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 01 xe môtô biển số 59F1-765.90. Vụ việc được Công an Phường 01, Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 2010/KLGĐ-H ngày 01/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an T phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Đình T, Nguyễn Minh P (người chứng kiến), chữ ký ghi tên Vũ Quang C (Điều tra viên) và hình dấu Công an Phường 1, Quận 10 có khối lượng 5,0995g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (MA).
Quá trình điều tra, Nguyễn Đình T khai nhận như sau: Khoảng 21 giờ 00 ngày 25/10/2019, T dùng điện thoại có số thuê bao 0903990038 gọi vào điện thoại của một người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch, địa chỉ) có số thuê bao 0942016166 hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp loại hàng đá. L đồng ý bán với giá 4.200.000 đồng và hẹn giao ma túy trên đường Quang Trung, quận Gò Vấp. Sau khi mua ma túy, đến 23 giờ 30 phút ngày 25/10/2019, khi T điều khiển xe môtô biển số 59F1-765.90 đến hẻm 418 Lê Hồng Phong, Phường 1, Quận 10 thì bị bắt như trên, theo T khai số ma túy mua của L như đã nêu trên để sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Nguyễn Đình T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với các đối tượng tên L (không rõ lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.
Ngoài ra, cơ quan Công an còn tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0903990038, T khai sử dụng để liên lạc mua ma túy của L.
Đối với 01 xe môtô biển số 59F1-765.90, qua xác minh được biết chủ sở hữu hợp pháp là chị Lưu Thị Mộng L. Chị L khai ngày 25/10/2019, Nguyễn Đình T mượn xe của chị và nói đi công việc, sau đó bị bắt. Việc T sử dụng xe đi mua ma túy, chị Ln không biết; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trả lại xe trên cho chị Lưu Thị Mộng L.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSQ10 ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, T Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, T phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (T khẩn khai báo, ăn năn hối cải); đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Đề nghị xử lý trách nhiệm và các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, T phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, T phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Đình T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép: 5,0995g loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn, nên bị cáo bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo T người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên, xét thấy bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo; đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do mới bị kết án lần đầu.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 gói được niêm phong (bên trong có chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone (Imei: 358763053863446, số thuê bao: 0903990038); là phương tiện dùng vào việc phạm tội; vậy căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đình T;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2019.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói được niêm phong (bên trong có chứa ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và cán bộ điều tra).
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone (Imei: 358763053863446, số thuê bao: 0903990038).
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2019 giữa Công an Quận 10, T phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Quận 10, T phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc: Bị cáo T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thị hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - Cục Hải Quan TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (2) - Công an Q.10; (2) - Chi cục Thuế Q.10; (1) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (2) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Triệu Luật |