vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 22/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo: Trần Văn V 01 (một) năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ. ( từ ngày 17/6/2020 đến ngày 26/6/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS - ST
Ngày: 22/10/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn Cao Sơn - Ông Đèo Văn V

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 22/10/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST - HS, ngày 01/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST - HS ngày 09/10/2020 đối với bị cáo:

Trần Văn V (Tên gọi khác: Không); sinh năm: 1960.

Nơi sinh: xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Tây Nguyên, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Đoán (đã chết) và bà Đinh Thị Cúc (đã chết); Vợ Vũ Thị Dinh, sinh năm: 1963; Bị cáo có 04 con.

Tiền án, Tiền sự: Không.

+ Ngày 27/12/1999 Trần Văn V bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số: 291/1999/HSST. Trần Văn V đã chấp hành án phạt tù tại trại giam Thanh Xuân, đến ngày 02/02/2008 chấp hành xong hình phạt tù về nơi cư trú sinh sống.

+ Ngày 26/8/2010 Trần Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm g (tái phạm) khoản 1 Điều 48, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt 36 tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số: 41/2010/HSST. Trần Văn V đã đi chấp hành án phạt tù tại trại giam Hồng Ca, đến ngày 25/10/2012 chấp hành xong hình phạt tù về nơi cư trú sinh sống. Ngày 09/6/2015 Trần Văn V đã thi hành xong khoản tiền phạt 20.000.000 đồng và án phí HSST. Như vậy Trần Văn V đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/6/2020, đến ngày 26/6/2020, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn Tây Nguyên, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị D, sinh năm: 1963

Địa chỉ: Thôn Tây Nguyên, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra, Trần Văn V khai nhận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 17/6/2020, Trần Văn V đem theo 200.000 đồng và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX màu bạc, BKS 25B1 - 19586 đi từ nhà lên xã Bản Lang, huyện Phong Thổ với mục đích để đi chơi. Khi V đi đến khu vực trung tâm xã Bản Lang thì lên cơn thèm Heroine nên đã nảy sinh ý định đi tìm mua Heroine sử dụng. Do khi đi uống Methadone ở xã Mường So, V có nghe thấy một số người nói ở xã Bản Lang có nhà mẹ Mừng có Heroine bán, V điều kiển xe máy đến khu vực trung tâm xã Bản Lang (V không biết tên bản) gặp một bé trai khoảng 11 đến 12 tuổi (V không biết họ tên, địa chỉ cụ thể), V hỏi cháu bé nhà của mẹ Mừng thì được cháu bé chỉ cho V biết nhà của mẹ Mừng. Sau đó V điều khển xe đi đến nhà mẹ Mừng, thấy không có ai ở nhà, cửa nhà khóa chốt bên trong, V đứng ngoài sân gọi vọng vào thì có giọng người phụ nữ nói vọng ra, V đã hỏi mua Heroine và đã mua được một gói Heroine được gói ngoài bằng 02 lớp (lớp bên ngoài gói bằng mảnh giấy màu nâu gói gấp lại, lớp bên trong gói bằng mảnh nilon màu trắng) với giá 200.000 đồng (V đưa tiền và nhận gói Heroine qua khe hở của ô cửa). Sau khi mua được gói Heroine, V cầm trong lòng bàn tay trái điều khiển xe máy đi về nhà để sử dụng. Vào 19 giờ 20 phút cùng ngày 17/6/2020, khi V đi về đến khu vực ngã ba chợ Mường So thuộc thôn Tây Sơn - Mường So - Phong Thổ thì gặp tổ công tác Công an xã Mường So đang làm nhiệm vụ phát hiện nghi vấn và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Trần Văn V có hành vi tàng trữ tái phép chất ma túy, gói Heroine có khối lượng 0,92 gam.

Ngày 17/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã tiến hành mở niêm phong vật chứng thu giữ của Trần Văn V và Kết luận giám định số 30/KLGĐ ngày 17/6/2020 của người giám định tư pháp theo vụ việc, sau khi cân tịnh xác định số chất bột màu trắng thu giữ bắt quả tang của Trần Văn V có khối lượng là 0,92 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 316/GĐ - KTHS ngày 21/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu, mẫu chất bột màu trắng thu giữ được của Trần Văn V gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Vật chứng còn lại của vụ án là: 0,86 gam Heroine còn lại sau giám định, cùng mảnh nilon màu trắng, mảnh giấy màu nâu dùng để gói Heroine và toàn bộ vỏ niêm phong cũ, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda PCX màu bạc, BKS 25B1 - 19586 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001991 mang tên Trần Văn V hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.

Bản cáo trạng số: 58/CT – VKS - PT ngày 01/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Trần Văn V về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Tuy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 51 - Bộ luật hình sự, nhưng xét về nhân thân bị cáo là xấu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng điều 54 - Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình sự; Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,86 gam Heroine còn lại sau giám định, cùng mảnh nilon màu trắng, mảnh giấy màu nâu dùng để gói Heroine và toàn bộ vỏ niêm phong cũ của Trần Văn V.

Đối với vật chứng là chiếc xe mô tô, bà Vũ Thị Dinh là vợ hợp pháp của bị cáo có đơn với nội dung chiếc xe mô tô là tài sản chung của hai vợ chồng đề nghị Tòa án xem xét trả lại để phục vụ nhu cầu cuộc sống của gia đình, tại phiên tòa bị cáo đề nghị trả lại cho vợ là bà Vũ Thị Dinh. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà Dinh 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda PCX màu bạc, BKS 25B1 - 19586, có số khung 560EY407009, số máy JF56E0016244 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001991 mang tên Trần Văn V.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản cáo trạng và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Do bị cáo nghiện chất ma túy nên bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo hứa cải tạo thành công dân tốt mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Ngày 17/6/2020 Trần Văn V đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết với mục đích để sử dụng. Sau khi mua được Heroine V chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Mường So kiểm tra phát hiện bắt quả tang V tàng trữ trái phép Heroine. Qua vận động, thuyết phục V đã tự giác giao nộp 01 gói Heroine cho Công an xã. Số Heroine Trần Văn V tàng trữ trái phép Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định và kết luận giám định khẳng định là “Heroine”.

Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn V Hội đồng xét xử xét thấy: Do bị cáo nghiện chất ma túy nên bị cáo mua Heroine về sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, cân tịnh khối lượng chất ma túy thu giữ của bị cáo có có khối lượng là 0,92 gam Heroine. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái pháp chất ma túy". Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo Trần Văn V về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn xã Bản Lang huyện Phong Thổ theo công văn số: 34/CV - ĐN ngày 10/10/2020 của Công an huyện Phong Thổ. Nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, do vậy cũng cần phải có một mức án phù hợp để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự

Về vật chứng: 0,86 gam Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 mảnh nilon màu trắng, 01mảnh giấy màu nâu dùng để gói Heroine và toàn bộ vỏ niêm phong cũ của Trần Văn V tịch thu tiêu hủy.

01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda PCX màu bạc, BKS 25B1 – 19586, có số khung 560EY407009, số máy JF56E0016244 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001991 mang tên Trần Văn V. Bà Vũ Thị Dinh là vợ hợp pháp của bị cáo có đơn với nội dung chiếc xe mô tô là tài sản chung của hai vợ chồng đề nghị Tòa án xem xét trả lại để phục vụ nhu cầu cuộc sống của gia đình, tại phiên tòa bị cáo đề nghị trả lại cho vợ là bà Vũ Thị Dinh do vậy cần trả lại cho bà Vũ Thị Dinh.

Về nguồn gốc số Heroine bị cáo khai mua của một người phụ nữ tại nhà “mẹ Mừng” qua khe hở của ô cửa, nhưng bị cáo không nhìn thấy người đã bán Heroine cho bị cáo. Qua xác minh đã xác định người phụ nữ có biệt danh “mẹ Mừng” là Pờ Thị Tán, sinh năm 1965, trú tại bản Hợp I, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, tuy nhiên bà Tán khai nhận không được bán Heroine cho Trần Văn V. Ngoài lời khai của V, của bà Tán thì không có chứng cứ nào khác do vậy không có căn cứ để xử lý đối với Pờ Thị Tán. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận, ngoài lần mua Heroine để sử dụng vào ngày 17/6/2020 thì trước đó bị cáo còn mua Heroine của một số người khác để sử dụng nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ vì vậy không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

1. Về hình phạt:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Trần Văn V 01 (một) năm tù, bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ. ( từ ngày 17/6/2020 đến ngày 26/6/2020).

Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình sự và Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,86 gam Heroine còn lại sau giám định, cùng mảnh nilon màu trắng, mảnh giấy màu nâu dùng để gói Heroine và toàn bộ vỏ niêm phong cũ của Trần Văn V.

- Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda PCX màu bạc, BKS 25B1 - 19586, có số khung 560EY407009, số máy JF56E0016244 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001991 mang tên Trần Văn V cho bà Vũ Thị Dinh.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ