vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 11/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) cho UBND xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Cảnh bị kết tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày: 11-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký TAND huyện Lục Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 92/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn C, sinh năm 1987. Tên gọi khác: Đỗ Văn C; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện LN, tỉnh BG; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Văn H, sinh năm 1959 và con bà Nông Thị N, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị Đ (đã chết); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 08/10/2020 đến 17/10/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vũ Quốc B, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Phố Đ, TT Đ, huyện LN, tỉnh BG.

- Anh Giáp Văn T, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện LN, tỉnh BG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn C (tức Đỗ Văn C), sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã B, huyện LN, tỉnh BG làm đại lý bán vé xổ số kiến thiết cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Bắc Giang, chi nhánh huyện Lục Nam. Theo C khai lợi dụng việc ghi xổ sổ C bắt đầu ghi lô đề cho khách từ khoảng đầu tháng 10/2020. Hàng ngày khi có khách đến đặt vấn đề mua các số lô đề thì C ghi các số lô, đề khách mua vào cáp con là tờ cuống vé “xổ số kiến thiết Bắc Giang” (cuống vé này không có giá trị với công tỷ xổ số) rồi đưa cho khách giữ. Sau đó C chép các số lô, đề vào cáp tổng là tờ “Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô” của Công ty xổ số kiến thiết Bắc Giang để theo dõi, tính T1 thua. Đến trước 18 giờ, C chuyển cho người tên T1 ở thôn Yên Thiện, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang để hưởng tiền %, hoa hồng, thông qua một người thanh niên hoặc một người phụ nữ (C không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ). Giữa C và T1 thỏa thuận, C ghi số lô cho khách là 22.500 đồng/1 điểm chuyển cho T1 với giá là 22.000 đồng/1 điểm, C được hưởng chệnh lệch 500 đồng/1 điểm. Đối với các dạng đề khác C được hưởng 20% tổng số tiền khách mua. Khi có khách trúng thưởng, C trả tiền cho khách rồi ngày hôm sau T1 cử người đến nhà C để tính toán tiền T1 thua giữa C và T1.

Quá trình điều tra xác định, C ghi các dạng đề gồm:

- Dạng thứ nhất (còn gọi là đề đặc biệt, đề nhất to): Người chơi chọn đặt cược 2 số cuối của giải đặc biệt hoặc 2 số cuối của giải nhất của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc để đặt cược với một số tiền nhất định. Nếu kết quả chọn trùng với kết quả xổ số Miền Bắc thì người chơi trúng cược sẽ được trả gấp 70 lần số tiền đặt cược, nếu thua cược thì mất số tiền đó.

- Dạng thứ hai (còn gọi là dạng đề lô 2 số): Người chơi đặt cược 2 số cuối của tất cả các giải kết quả xổ số được tính bằng điểm, mỗi điểm người chơi phải trả 23.000 đồng/ 1 điểm. Nếu trúng cược sẽ được trả 80.000 đồng/1 điểm/1 nháy, nếu thua cược thì mất số tiền cược đó.

- Dạng thứ ba (còn gọi là lô xiên) gồm xiên 2, xiên 3, xiên 4: Người chơi đặt cược 2 cặp số hoặc 3 cặp số hoặc 4 cặp số để cược với hai số cuối cùng của tất cả các giải xổ số kiến thiết Miền Bắc. Nếu trúng sẽ được trả thưởng gấp 10 lần số tiền đặt cược đối với đánh lô xiên 2, trả thưởng gấp 40 lần đối với xiên 3, trả thưởng gấp 100 lần đối với lô xiên 4.

- Dạng ba càng: Người chơi đặt cược 3 suối cuối của giải đặc biệt và giải nhất của giải xổ số kiến thiết Miền Bắc. Nếu trúng sẽ được trả thưởng gấp 400 lần số tiền đặt cược, nếu thua thì bị mất số tiền chơi.

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn C khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 08/10/2020, khi C đang ngồi ở bàn nhựa kê trước cửa nhà mình để bán số lô thì có Vũ Quốc B, sinh năm 1972 ở phố Đồi Ngô, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam và Bùi Văn Hùng, sinh năm 1990 ở thôn Tiền, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đến đặt vấn đề mua số lô đề, C đồng ý. B đưa tờ cáp con đánh hết số tiền 650.000 đồng ngày 7/10/2020 cho C, C đối chiếu kết quả xổ số thì B trúng lô 09= 10 điểm= 800.000đồng; lô xiên 2: 09, 65= 50.000đồng= 500.000đồng (tổng là 1.950.000 đồng). C xé một phần tờ cáp rồi giữ lại, C trả cho B số tiền 1.300.000 đồng.

Sau đó Hùng mua của C các số lô, đề sau gồm: Lô 96, 69 mỗi số 60 điểm; lô xiên 2: 96, 69=100.000 đồng; lô xiên 3: 96, 69, 72= 100.000 đồng; đề đặc biệt và giải nhất số 96, 69 mỗi số 100.000 đồng. C viết các số lô, đề ra một tờ giấy trắng rồi chép ra tờ cuống vé xổ số đưa cho Hùng giữ, Hùng trả số tiền 3.200.000 đồng cho C.

Tiếp đó, B tiếp tục đặt mua các số lô, đề của C gồm: Lô 37= 40 điểm, 73= 50 điểm; lô xiên 2: 37, 73= 100.000 đồng; đề đặc biệt 37-73 mỗi số 50.000 đồng. C ghi số lô, đề vào tờ giấy trắng rồi chép ra tờ cuống vé xổ số đưa cho B giữ. B trả cho C số tiền 2.225.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi C bán số lô, đề cho Hùng và B xong thì Giáp Văn T, sinh năm 1963 ở thôn Huê Vận 1, xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam đến nhà C hỏi mua số lô đề (nhưng chưa mua). Khi C đang chép các số lô, đề của Hùng, B vào tờ “Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô” thì bị tổ công tác Công an huyện Lục Nam phối hợp với Công an xã Bảo Sơn bắt quả tang, thu giữ:

- 01 tờ cáp con đề ngày 8/10 (dạng tờ phiếu xổ số kiến thiết Miền Bắc), ghi số và chữ, có chữ ký của Lê Văn C thu trên người Vũ Quốc B;

- 01 tờ cáp con đề ngày 8/10 (dạng tờ phiếu xổ số kiến thiết Miền Bắc), ghi số và chữ, có chữ ký của Lê Văn C thu trên người Bùi Văn Hùng;

- 01 tờ cáp ghi số và chữ; 01 tờ cáp in chữ “Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô” ghi số và chữ; 01 tờ cáp con ghi trên tờ phiếu xổ số kiến thiết Miền Bắc đề ngày 7/10 ghi số và chữ; số tiền 10.280.000 đồng; 02 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG; 01 ghế nhựa màu đỏ và 01 bàn nhựa màu đỏ của Lê Văn C (thu trên mặt bàn nhựa và trên người).

- Thu giữ của Giáp Văn T: 1 tờ cáp ghi trên phiếu xổ số kiến thiết Miền Bắc đề ngày 7/10 số “55-50đ”; số tiền 1.800.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu ghi đen; 01 ví da màu đen; 01 chứng minh nhân dân mang tên Giáp Văn T; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Giáp Văn Mạnh và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α, BKS 98B3-56575. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, số Imell: 355915/10/36031/9 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imell: 357625/08/152681/9 của Lê Văn C, kết quả không có nội dung liên quan đến việc ghi số lô, đề.

Tại Bản kết luận giám định số 1481 ngày 13/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Chữ viết, chữ ký trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 so với chữ ký, chữ viết của Lê Văn C là do cùng một người viết ra.

Quá trình điều tra, Lê Văn C khai nhận tờ “Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô” là tờ cáp tổng C ghi cho khách ngày 8/10/2020, cụ thể: ghi cho khách qua đường được số tiền là 29.652.500 đồng, ghi cho Hùng và B được số tiền là 5.425.000 đồng. Tổng số tiền C đánh bạc ngày 08/10/2020 là 35.077.500 đồng.

Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra Lê Văn C còn khai nhận ngày 07/10/2020 C có hành vi ghi số lô đề cho Vũ Quốc B với tổng số tiền là 650.000 đồng, trúng thưởng 1.300.000 đồng; Giáp Văn T với số tiền 1.125.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc giữa C với B, T là 3.075.000 đồng. Lê Văn C khai sau khi ghi được số lô đề cho B, T và khách qua đường ngày 07/10/2020 thì C chuyển cáp và tiền hết cho T1 nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Hành vi trên của Lê Văn C chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Ngày 22/12/2020, Viện KSND huyện Lục Nam đã có công văn đề nghị Công an huyện Lục Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Đối với Vũ Quốc B, Giáp Văn T có hành vi mua số lô, đề của Lê Văn C quá trình điều tra xác định số tiền B, T sử dụng vào việc đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" và đều chưa có tiền án, tiền sự. Ngày 30/11/2020, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B và T.

Đối với Bùi Văn Hùng, sinh năm 1990 ở thôn Tiền, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang nhưng không xác định được đối tượng nào có lý lịch như trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng tên T1 là người C khai chuyển cáp đề để hưởng tiền %, hoa hồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thôn Yên Thiện, xã Bảo Sơn có người tên Vũ Ngọc T1, sinh năm 1989. Tuy nhiên Vũ Ngọc T1 vắng mặt tại gia đình, địa phương từ khoảng tháng 9/2020 nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ thì xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh Giáp Văn T gồm: số tiền 1.800.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu ghi đen; 01 ví da màu đen; 01 chứng minh nhân dân mang tên Giáp Văn T; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Giáp Văn Mạnh và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α, BKS 98B3-56575. Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra chuyển xử lý theo vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố đã nêu. Bị cáo xuất trình thêm giấy chứng nhận thương binh hạng 4/4 số A2.47771 ngày 15/06/2006 của ông Nguyễn Văn Hạ (tức Lê Văn Hạ), sổ danh sách thương binh đơn vị sư đoàn 3, sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn Hạ (Lê Văn Hạ), sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng của ông Nguyễn Văn Hạ (tức Lê Văn Hạ) là bố đẻ của bị cáo.

Với nội dung trên, tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-LN ngày 22/12/2020 của VKSND huyện Lục Nam đã truy tố Lê Văn C về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Lê Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i; s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Xử phạt Lê Văn C từ 20 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 40 tháng đến 48 tháng.

Giao bị cáo cho UBND xã Bảo Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu sung công quỹ số tiền 10.000.000 đồng.

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 24.797.500 đồng.

Truy thu số tiền 3.075.000 đồng ngày 07/10/2020.

Trả lại bị cáo Lê Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imeil 355915/10/36031/9; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imeil 357625/08/152681/9 thu giữ của bị cáo Lê Văn C. Nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 01 ghế nhựa màu đỏ, 01 bàn nhựa màu đỏ.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Văn C không tranh luận gì với đại diện VKSND huyện Lục Nam, lời nói sau cùng bị cáo C chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Quốc B, anh Giáp Văn T vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.

Về căn cứ xác định bị cáo có tội Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định truy tố đã nêu. Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 08/10/2020, bị cáo Lê Văn C có hành vi bán số lô, số đề cho Vũ Quốc B, sinh năm 1972 ở phố Đồi Ngô, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam và Bùi Văn Hùng, sinh năm 1990 ở thôn Tiền, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang với tổng số tiền là 5.425.000 đồng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo Lê Văn C còn ghi cho khách qua đường được số tiền là 29.652.500 đồng. Tổng số tiền bị cáo C đánh bạc ngày 08/10/2020 là 35.077.500 đồng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, muốn có tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, VKSND huyện Lục Nam truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó việc áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố bị cáo là thương binh hạng 4/4 nên HĐXX thấy cần áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có bị cáo hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và giao bị cáo cho UBND xã Bảo Sơn giám sát bị cáo trong thời gian thử thách án treo cũng đảm bảo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định và thu nhập không ổn định, nên HĐXX thấy không cần áp dụng Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 10.280.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Lê Văn C, đây là số tiền bị cáo ghi số lô, số đề mà có nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 24.797.500 đồng bị cáo C đã trả thưởng cho những người chơi những ngày trước là số tiền bị cáo C ghi số lô, số đề ngày 08/10/2020, nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS truy thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với yêu cầu truy thu số tiền 3.075.000 đồng ngày 07/10/2020 của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX thấy, đối với hành vi đánh bạc ngày 07/10/2020 của bị cáo C đã bị Công an huyện Lục Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 01/01/2021 với mức phạt là 1.500.000 đồng. Do đó, hành vi này của bi cáo C HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imeil 355915/10/36031/9; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imeil 357625/08/152681/9 thu giữ của bị cáo Lê Văn C, đây là tài sản riêng của bị cáo C, bị cáo không dùng những tài sản này vào việc đánh bạc nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để trả lại cho bị cáo C, tuy nhiên được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với 01 ghế nhựa màu đỏ, 01 bàn nhựa màu đỏ đây là những vật bị cáo dùng vào việc ghi số lô, số đề và đây là vật ít giá trị nên HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Đối với Vũ Quốc B, Giáp Văn T có hành vi mua số lô, đề của Lê Văn C quá trình điều tra xác định số tiền B, T sử dụng vào việc đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" và đều chưa có tiền án, tiền sự. Ngày 30/11/2020, Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B và T. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với Bùi Văn Hùng, sinh năm 1990 ở thôn Tiền, xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang nhưng không xác định được đối tượng nào có lý lịch như trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với đối tượng tên T1 là người C khai chuyển cáp đề để hưởng tiền %, hoa hồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại thôn Yên Thiện, xã Bảo Sơn có người tên Vũ Ngọc T1, sinh năm 1989. Tuy nhiên Vũ Ngọc T1 vắng mặt tại gia đình, địa phương từ khoảng tháng 9/2020 nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ thì xử lý sau. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn C (tức Đỗ Văn C) cho UBND xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án được cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS.

Tịch thu sung công quỹ số tiền 10.280.000 đồng.

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 24.797.500 đồng của bị cáo Lê Văn C.

Trả lại bị cáo Lê Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imeil 355915/10/36031/9; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen số Imeil 357625/08/152681/9 thu giữ của bị cáo Lê Văn C. Nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy 01 ghế nhựa màu đỏ, 01 bàn nhựa màu đỏ.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai./.

Cỡ chữ