vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Xử phạt: Bị cáo Nông Thế V 12 ( mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 03/10/2019. Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Thế V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/ HS-ST
Ngày 20/01/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô và Ông Ngô Thanh Xuân

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Luyện, Kiểm sát viên.

Ngày 20/01/2020, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2019/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HS ngày 06/01/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Thế V, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 0/12; Con ông Nông Thế Kh (đã chết) và con bà Hoàng Thị L, sinh năm 1950; Bị cáo có vợ là Lê Thị Nh, sinh năm 1983; có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2016.

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Bản án số 91/HSST ngày 12/8/1999, Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong.

+ Bản án số 12/HSST ngày 12/02/1915, Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội “Buôn lậu”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/8/2015; chấp hành xong án phí HSST năm 2015.

- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công tỉnh Bắc Giang, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Trọng Nghĩa, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang;

Địa chỉ: Số 663, đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, TPBắc Giang, tỉnh Bắc

Giang, (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1984 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

* Người làm chứng:

1. Chị Dương Thị T, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn Th, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn B, xã Ngh, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 03/10/2019, tại quầy thuốc T thuộc thôn Th, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang bị cáo Nông Thế V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

+ 03 (ba) đoạn ống nhựa được hàn kín 02 đầu (trong đó có 01 đoạn màu hồng, 01 đoạn màu xanh lá cây, 01 đoạn màu xanh da trời), bên trong đều đựng chất cục bột nghi là ma túy Heroin (bị cáo V tự giác lấy từ trong túi phía trước bên trái đang mặc giao nộp);

+ Số tiền 40.000đ (thu trong túi quần phía trước bên trái V đang mặc);

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel có số Imei 301014152149032 (thu tại túi quần phía trước bên phải V đang mặc);

+ 01 xe mô tô BKS 12H1-018.93.

Vật chứng nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã niêm phong gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 1571/KL-KTHS ngày 04/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có 01 đoạn màu hồng; 01 đoạn màu xanh lá cây; 01 đoạn màu xanh da trời) đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,128gam”.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nông Thế V khai nhận: Bị cáo mắc nghiện ma túy heroin từ khoảng 2-3 năm trước, hình thức sử dụng là đốt, hít trên giấy bạc. Khoảng 9 giờ ngày 03/10/2019, V mượn xe mô tô của anh Hoàng Văn S ở cùng thôn để đi xuống khu vực thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực gần nhà trọ B thuộc khu 3, thị trấn K, huyện L tìm, bị cáo V hỏi mua 03 đoạn ống nhựa bên trong đựng chất ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ. Mua được ma túy, V cất vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc để đem về nhà sử dụng. Sau đó, V ra quầy thuốc T thuộc thôn Th, xã T, huyện L để mua thuốc ho. Khi V vừa vào trong hiệu thuốc thì bị Công an huyện kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng đối với V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra Nông Thế V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 19/12/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nông Thế V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, nhưng các tài liệu có trong hồ sơ đã khai rõ sự liên quan về chiếc xe như Cáo trạng đã nêu, đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng các tài liệu có trong hồ sơ đã khai rõ diễn biến họ đã chứng kiến khi cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo Nông Thế V có hành vi tàng trữ trái phép ma túy hêroin trong người.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, tuyên phạt bị cáo Nông Thế V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 03/10/2019, đề nghị miễn phạt bổ sung bị cáo và đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về vật chứng: ĐÒ nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong lại bằng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định;

Đề nghị trả lại bị cáo số tiền 40.000 đồng đựng trong 01 phong bì có ký hiệu “Tiền thu giữ của Nông Thế V”, 01 điện thoại di động Masster, thu giữ của bị cáo, đồng thời đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, Người bào chữa cho bị cáo xác định việc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Người bào chữa không tranh luận gì về tội danh cũng như điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo vì bị cáo là người không biết chữ, hiểu biết pháp luật hạn chế, suy nghĩ đơn giản (nghĩ bị đau chân nên mua ma túy sử dụng để nhanh khỏi để kiếm tiền nuôi con). Bị cáo sinh sống ở địa bàn khó khăn, bản thân bị cáo cũng có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hiện nay đang nuôi 2 con nhỏ. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo 12 tháng tù và nhất trí với đề nghị của đại diện VKSND huyện là trả lại bị cáo 40.000 đồng và 01 chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện VKS, của bị cáo, của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Trước cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/10/2019, cũng như các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, cũng như kết luận giám định, đã thể hiện: Vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 03/10/2019, tại quầy thuốc T thuộc thôn Th, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nông Thế V đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,128gam ma túy Heroin thì bị Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Như vậy, HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nông Thế V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thấy: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bªn c¹nh ®ã, nã cßn lµ nguyªn nh©n vµ ®iÒu kiÖn ph¸t sinh c¸c lo¹i téi ph¹m vµ tÖ n¹n x· héi kh¸c. §èi víi lo¹i téi ph¹m vÒ ma tóy, Nhµ n íc ta ®· vµ ®ang cã nh÷ng chÕ tµi hÕt søc nghiªm kh¾c. Song, các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Do đó cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đã đề nghị với Hội đồng xét xử ở tại phiên tòa.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân thấy: Bị cáo có nhân thân xấu (như phần đầu án đã nêu).

Tuy nhiên, HĐXX xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ được tặng kỷ niệm chương thanh niên xung phong; số lượng ma túy Hêrôin bị cáo tàng trữ không nhiều (0,128 gam). HĐXX thấy ý kiến đề nghị của vị Luật sư - Người bào chữa cho bị cáo ở tại phiên tòa là có căn cứ. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. HĐXX thấy phạt bị cáo với mức khởi điểm của khung hình phạt cũng là phù hợp.

Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống ở vùng có kinh tế khó khăn. Gia đình bị cáo cũng có hoàn cảnh khó khăn, đang có 2 con nhỏ, bản thân bị cáo bị đau chân không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nông Thế V, quá trình điều tra V khai mua của một đối tượng không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực gần nhà trọ B ở khu 3, thị trấn K. Cơ quan điều tra đã làm việc, xác minh, nhưng không biết có ai mua bán ma túy ở đó. Ngoài lời khai của V, cơ quan điều tra không còn tài liệu nào khác để xác minh làm rõ đối tượng bán ma túy cho V để xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô Sirius, biển kiểm soát 12H1-018.93, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn S. Khi V mượn xe đã không nói cho anh S biết là để đi mua ma túy. Ngày 04/10/2019, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Hoàng Văn S là đúng pháp luật, nên không phải giải quyết.

Những vật chứng còn lại chuyển theo hồ sơ HĐXX thấy:

- 01 phong bì có ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong lại bằng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với số tiền 40.000 đồng đựng trong 01 phong bì có ký hiệu “Tiền thu giữ của Nông Thế V” được niêm phong; 01 chiếc điện thoại di động Masster là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Như trên đã nêu, bị cáo Nông Thế V sống ở vùng kinh tế khó khăn. Gia đình bị cáo cũng có hoàn cảnh khó khăn, có 2 con nhỏ, bản thân bị cáo bị đau chân, nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Thế V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 293, 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nông Thế V 12 ( mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 03/10/2019. Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì có ký hiệu “QT” bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong lại bằng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định;

- Trả lại bị cáo 40.000 đồng đựng trong 01 phong bì có ký hiệu “Tiền thu giữ của Nông Thế V” đã được niêm phong, 01 chiếc điện thoại di động Masster. (Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Thế V.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ