vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng Tuyên án 03/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Buộc bị cáo U phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁT HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày 03-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Văn Năm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Lợi

Ông Đỗ Văn Tân.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn U (Tên gọi khác: Nguyễn Văn Q), sinh ngày 01-9-1973 tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố 14, thị trấn C, huyện CH, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; chưa có vợ con; tiền án: 07 (đều đã được xóa án tích); tiền sự: 02, năm 2017 Ủy ban nhân dân thị trấn Cát Bà ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Cát Hải ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa thi hành); bị tạm giữ từ ngày 06-12-2019 đến ngày 07-12-2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 06-12-2019 tại tổ dân phố 17, thị trấn Cát Bà, Công an huyện Cát Hải phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn U, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải đang mặc của U 03 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Công an huyện Cát Hải đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong số ma túy để tiến hành giám định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải, Nguyễn Văn U khai nhận: Do nghiện ma túy, nên khoảng 08 giờ 45 phút ngày 06-12-2019, U đi phương tiện công cộng từ thị trấn Cát Bà vào khu vực đường tàu quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 150.000 đồng được 03 gói ma túy loại Heroine mục đích đem về nhà để sử dụng, U cất giấu số ma túy vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc và đi xe khách về thị trấn Cát Bà. Đến khoảng 14 giờ 15 phút, khi U đang đi bộ ở tổ dân phố 17 thị trấn Cát Bà thì bị Công an huyện Cát Hải phát hiện bắt quả tang, thu giữ số ma túy trên.

Bản Kết luận giám định số 600/KLGĐ ngày 07-12-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5043 gam, là loại Heroine.

Bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 08-01-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo có hành vi cất giữ trái phép 0,5043 gam ma túy, là loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với U về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì bị cáo không có tài sản riêng, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định thu giữ được của Nguyễn Văn U.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người làm chứng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn U tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, của người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 06-12-2019, U đi từ huyện Cát Hải vào nội thành Hải Phòng mua được 03 gói Heroine của một người phụ nữ không quen biết với giá 150.000 đồng, U cất giấu số ma túy vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc và đi về thị trấn Cát Bà. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi U đang đi bộ ở tổ dân phố 17, thị trấn Cát Bà thì bị Công an huyện Cát Hải phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn U tàng trữ trái phép 0,5043 gam ma túy, là loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng giáo dục chung, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-12-2019 đến ngày 07-12-2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Như vậy, bị cáo bị tạm giữ 01 ngày, thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.

Về nhân thân: Trong thời gian 17 năm kể từ năm 2001 đến năm 2018, bị cáo đã có 07 tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng đều được xóa án tích, có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đều bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn, biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa thi hành). Tuy, các tiền án, tiền sự nêu trên không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân rất xấu và coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo đang bị nhiễm HIV, sức khỏe yếu nên cũng cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, không có tài sản riêng. Việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là không có khả năng thực hiện được, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định.

Về các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Nguyễn Văn U, do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người phụ nữ trên, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn U (Tên gọi khác: Nguyễn Văn Q) 39 (Ba mươi chín) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Trừ cho bị cáo 01 (Một) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 38 (Ba mươi tám) tháng 29 (Hai mươi chín) ngày tù, thời gian tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án,

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy thu giữ của Nguyễn Văn U còn lại sau giám định. Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14-01-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án,

Buộc bị cáo U phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ