- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Th - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HS-ST Ngày: 26-02-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nông Ngọc Hóa.
Bà: Hoàng Thị Thào.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Ma Thế Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST-HS, ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Thị Th, sinh ngày: 15/3/1971, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Kh, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M (đã chết) và bà Hoàng Thị S; chồng: Hoàng Văn Á (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 17/6/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”( Bản án số: 36/2005/HSST), đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/9/2019 đến ngày 04/10/2019 được tại ngoại đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Chiên - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Văn T, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn P, xã Ch, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Người chứng kiến:
1. Chị Lý Thị N, sinh năm: 1964. Vắng mặt.
2. Chị Dương Thị B, sinh năm: 1967. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút ngày 28/9/2019, Tổ công tác về ma túy Công an huyện B đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn Ph, xã M, huyện B thì phát hiện 01 đối tượng nữ giới đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F4 - 1683 đi hướng từ thôn N, xã M đến có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra, đối tượng khai tên là Hoàng Thị Th (Sinh năm 1971. Trú tại: Thôn Kh, xã M, huyện B). Qua kiểm tra, đã phát hiện tại lòng bàn tay phải có 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong có 06 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ đều chứa chất bột màu trắng, Hoàng Thị Th thừa nhận 06 gói chứa chất bột màu trắng là ma túy (heroine), tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th, niêm phong 06 gói chứa chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B1. Ngoài ra, còn tạm giữ của Th 01 xe môtô biển kiểm soát 97F4 - 1683, 01 điện thoại di động và số tiền 524.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của Hoàng Thị Th ở thôn Kh, xã M, huyện B. Kết quả khám xét đã phát hiện và tạm giữ số tiền 11.000.000 đồng cùng 02 điện thoại di động.
Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu B1 để cân xác định khối lượng 06 gói chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Thị Th được 1,45 gam. Đã niêm phong 1,45 gam chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B2 và bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.
Tại Bản Kết luận giám định số 140/KTHS-MT ngày 04/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B2 thu giữ của Hoàng Thị Th gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 1,45 gam. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì B2 còn lại là 1,42 gam cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T140 và hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B quản lý theo quy định.
Bị cáo Hoàng Thị Th khai nhËn: Khoảng 16 giờ ngày 27/9/2019, Th điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97F4 - 1683 ra thị trấn Ph, huyện B, khi đi qua đèo V thuộc xã V, huyện B thì nhìn thấy M (Th quen trước đó nhưng không rõ họ, địa chỉ cụ thể) quê ở Thái Nguyên đang đứng ở cạnh đường, Th dừng xe nói chuyện rồi hỏi mua ma túy, Th mua với M 01 gói ma túy với trị giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), mua được ma túy Th mang về nhà chia ra, dùng giấy trắng có dòng kẻ gói được 06 gói, lấy nilon màu hồng gói lại với mục đích để bán cho những người nghiện. Đến khoảng 09 giờ ngày 28/9/2019, Th mang 06 gói ma túy đến thôn N, xã M, huyện B bán cho T (trước đó T có đến nhà bị cáo Th để hỏi mua ma túy) thì bị Tổ công tác Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang tại thôn Ph, xã M, huyện B thu giữ 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong có 06 gói ma túy có tổng khối lượng 1,45 gam, 01 điện thoại di động, số tiền 524.000 đồng và 01 xe môtô. Ngoài ra, khi cơ quan điều tra khám xét nhà của Th còn thu giữ số tiền 11.000.000 đồng, 02 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.
Lý Văn T khai bản thân là người nghiện ma túy, ngày 27/9/2019 T có đến nhà bị cáo Th hỏi mua ma túy mục đích về để sử dụng cho bản thân nhưng bị cáo Th không có và hẹn T ngày hôm sau mua ma túy về để bán cho T.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSBB ngày 15/01/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Hoàng Thị Th về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trước cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Hoàng Thị Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Hoàng Thị Th theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Th phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Th từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Th khởi điểm của khung hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người chứng kiến vắng mặt không có lý do nhưng việc tống đạt giấy triệu tập đã đúng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, tại Cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292, Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị Th đều thừa nhận: Vì mục đích kiếm lời nên ngày 27/9/2019 tại đèo V thuộc xã V, huyện B, bị cáo Hoàng Thị Th đã mua ma túy (Heroine) với một người đàn ông tên M quê ở Thái Nguyên (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) với số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) được một gói nhỏ. Sau đó, bị cáo chia thành nhiều gói nhỏ với mục đích bán lại các con nghiện, ngày 28/9/2019 trên đường đi bán ma túy, bị cáo Hoàng Thị Th bị Tổ công tác Công an huyện B bắt quả tang, thu giữ được 06 gói nhỏ ma túy với tổng trọng lượng là 1,45 gam.
Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Từ những nhận định trên, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Thị Th đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Ngày 17/6/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích).
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma túy và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hoàng Thị Th từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù cũng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng khi trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học, trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Mặt khác, bị cáo chỉ được hưởng một tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo”. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo Hoàng Thị Th không thuộc đối tượng nghèo, cận nghèo... Nên cần thiết phải có hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:
+1,42 gam ma tuý (heroine) được niêm phong trong phong bì ký hiệu T140 cùng phong bì, bao gói cũ.
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu B3 bên trong chứa toàn bộ giấy gói ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ.
- Trả lại cho bị cáo 03 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Massel màu xanh, viền trắng; 01 chiếc nhãn hiệu Masstel màu xanh, viền đen; 01 chiếc nhãn hiệu OPPO) do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại số tiền 11.524.000đ (Mười một triệu năm trăm hai mươi tư nghìn đồng) cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH biển kiểm soát 97F4-1683 mà bị cáo sử dụng để đi mua bán ma túy. Xét thấy đây là tài sản của bị cáo, liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/01/2020 và ngày 17/01/2020 ngày giữa Công an huyện B,, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn).
Về các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có người đàn ông tên M mà bị cáo Th đã mua ma túy, quá trình điều tra Công an huyện B không xác định được danh tính và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Lý Văn T là người nghiện ma túy, hỏi mua ma túy với bị cáo về sử dụng trái phép nhưng chưa thực hiện được nên không cấu thành tội phạm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Th 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ số ngày bị tạm giữ (từ ngày 28/9/2019 đến ngày 04/10/2019).
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Hoàng Thị Th 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:
+1,42 gam ma tuý (heroine) được niêm phong trong phong bì ký hiệu T140 cùng phong bì, bao gói cũ.
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu B3 bên trong chứa toàn bộ giấy gói ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ.
- Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SMASH biển kiểm soát 97F4-1683 mà bị cáo sử dụng để đi mua bán ma túy.
- Trả lại cho bị cáo 03 chiếc điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu Massel màu xanh, viền trắng; 01 chiếc nhãn hiệu Masstel màu xanh, viền đen; 01 chiếc nhãn hiệu OPPO) do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại số tiền 11.524.000đ (Mười một triệu năm trăm hai mươi tư nghìn đồng) cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo. Số tiền còn lại sau khi thi hành án được trả lại cho bị cáo.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/01/2020 và ngày 17/01/2020 ngày giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn).
3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn;(1) - VKSND tỉnh Bắc Kạn;(1) - VKSND huyện B (2); - Bị cáo; (1) - Người bào chữa; (1) - Người có QL,NVLQ;(1) - Chi cục THADS huyện B;(1) - Công an huyện B;(2) - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn;(1) - THAHS; (1) - Lưu hồ sơ vụ án; (1) - Lưu Văn phòng. (1) | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |