vanban.org

Bản án 01/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H.

Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Đỗ Quốc K. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thúy Hằ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đỗ Quốc T, sinh ngày 12/8/2012. Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13/02/2020
“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hòa Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Ngọc Trứ;

- Ông Lê Văn Tám;

Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 389/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Khu Z, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Đỗ Quốc K, sinh năm 1982;

Địa chỉ: ấp P, xã Q, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

(Chị H có mặt, anh K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Chị và anh Đỗ Quốc K tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2010, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Tiên, huyện Cai Lậy theo giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 15/6/2011. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh K không lo làm ăn và chăm sóc vợ con, thường xuyên xảy ra xung đột, anh K xúc phạm danh dự của chị, đánh đập chị và còn dọa giết chị. Chị cố gắng hòa giải để hàn gắn gia đình chăm lo con chung cũng như kinh tế gia đình nhưng anh K không sửa tính tình nên anh K, chị đã ly thân nhau và chấm dứt quan hệ vợ chồng. Nay thấy tình cảm không thể hàn gắn được chị xin ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung tên Đỗ Quốc T, sinh ngày 12/8/2012; hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đỗ Quốc K vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chị H và anh K kết hôn năm 2010 có 01 con chung. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải nhau, do anh K không quan tâm chăm sóc gia đình mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Tại Tòa hôm nay chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh K. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh K vẫn vắng mặt. Xét thấy tình cảm của anh chị không còn nên yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh K là có cơ sở.

Về con chung: Chị H và anh K có 01 con chung tên Đỗ Quốc T, sinh ngày 12/8/2012 cháu T đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H.

Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Đỗ Quốc K tự nguyện sống chung có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 67 ngày 15/6/2011 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Đỗ Quốc K vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với anh K.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh K lý do chị cho rằng anh K không lo làm ăn, thường xuyên nhậu về đánh chị, đòi giết chị, không quan tâm chăm sóc vợ con, nay chị thấy không còn hạnh phúc với anh K, chị và anh K đã ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng đã lâu. Tại phiên tòa anh K vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của chị H. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hằng là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

[3] Về con chung: Chị H và anh K có 01 con chung tên Đỗ Quốc T, sinh ngày 12/8/2012 cháu T đang sống với chị. Khi ly hôn chị H yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của cháu Đỗ Quốc T muốn được sống với mẹ khi chị H và anh K ly hôn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H.

- Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn với anh Đỗ Quốc K.

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thúy Hằ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đỗ Quốc T, sinh ngày 12/8/2012. Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

- Về án phí HNST:

Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0000223 ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Cai Lậy. Như vậy, chị Hằng đã nộp xong.

Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh K được quyền kháng cáo kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Án tuyên và kết thúc cùng ngày./.

Cỡ chữ