- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L xin ly hôn Hoàng Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST Ngày 14/02/2020 V/v: Tranh chấp về HN và GĐ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Chu Thị Hồng Nhật;
2. Bà Lê Thị Sinh Chi.
- Thƣ ký phiên toà: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 175/2019/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 12 năm 2019 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2020 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1981.
Nơi ĐKHKTT: Số nhà 03/45, đường P, Tổ 12A, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Chỗ ở hiện nay: Số nhà 07/20/23/409 M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Số nhà 03/45, đường P, Tổ 12A, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt chị L và anh D).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày và có yêu cầu như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Hồng Phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 29/11/2010. Sau kết hôn, chị L và anh D chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, khi anh D nóng nảy thì chị L không kìm chế nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, có lần anh D đã tát chị L. Từ ngày 06/02/2019 chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, chị L và anh D đã sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị L xác định không tình cảm vợ chồng với anh D, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn anh D. Việc ly hôn, chị L đã suy nghĩ kỹ và hoàn toàn tự nguyện.
- Về nuôi con: Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D có 02 con chung là con Hoàng Khánh L, sinh ngày 23/8/2011 và con Hoàng Khánh N, sinh năm 13/8/2017. Hiện 02 con chung đang ở cùng với anh D.
Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Hoàng Khánh N. Anh D trực tiếp nuôi con Hoàng Khánh L. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện chị L làm kế toán tại Công ty TNHH ô tô xe máy Phương Đông tại Hải Phòng có thu nhập ổn định là 10.555.000 đồng/tháng.
- Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D không có tài sản chung, không vay nợ chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, vay nợ chung của vợ chồng.
* Tại lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Hoàng Văn D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn D và chị Nguyễn Thị L tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Hồng Phong, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 29/11/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị L không có trách nhiệm với chồng, con và gia đình. Đến Tết Nguyên đán năm 2019 anh D đưa chị L về nhà bố mẹ đẻ ở, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị L có đơn xin ly hôn, anh D xác định vợ chồng không còn tình cảm, quá trình chung sống không có hạnh phúc nên anh D đồng ý ly hôn với chị L. Việc ly hôn, anh D đã suy nghĩ kỹ và hoàn toàn tự nguyện.
- Về nuôi con: Anh Hoàng Văn D và chị Nguyễn Thị L có 02 con chung là con Hoàng Khánh L, sinh ngày 23/8/2011 và con Hoàng Khánh N, sinh ngày 13/8/2017. Hiện hai con chung đang ở cùng với anh D.
Ly hôn, anh D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung. Anh D không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho các con chung. Hiện tại anh D là thợ cơ khí, thu nhập bình quân từ 15 – 20 triệu đồng/tháng.
- Về chia tài sản: Anh Hoàng Văn D và chị Nguyễn Thị L không có tài sản chung, không vay nợ chung. Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, vay nợ chung của vợ chồng.
* Quá trình xác minh tổ trưởng tổ 12A, phường L cung cấp:
Anh Hoàng Văn D và chị Nguyễn Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 12A phường L và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L vào ngày 29/11/2010, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà mẹ đẻ anh D. Anh D và chị L có mâu thuẫn nhưng chỉ trong gia đình, không nhờ các đoàn thể tại địa phương hòa giải. Cuối năm 2018 chị L về nhà bố mẹ đẻ tại thành phố Hải Phòng sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị L và anh D có 02 con chung, hiện tại 02 con đang ở với anh D. Chị L và anh D có tài sản chung, vay nợ chung hay không thì địa phương không biết. Chị L xin ly hôn anh D, địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật, nguyện vọng của hai bên và đảm bảo quyền lợi của con chung để giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
1. Về tố tụng:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền và thụ lý vụ án; thực hiện đầy đủ các thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuẩn bị xét xử được thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Về thành phần tham gia xét xử và việc tiến hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa được thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
2. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D.
- Về nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Khánh N, sinh ngày 13/8/2017. Giao cho anh Hoàng Văn D trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Khánh L, sinh ngày 23/8/2011. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh D được tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp nhau. Mâu thuẫn theo anh D trình bày là do chị L không có trách nhiệm với chồng, con và gia đình. Chị L và anh D thống nhất trình bày từ đầu năm 2019 cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị L xin ly hôn, anh D đồng ý ly hôn. Xét thấy trên thực tế cuộc sống chung giữa chị L và anh D đã không còn tồn tại, tình yêu thương đối với nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần chấp nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị L và anh D.
Về nuôi con: Chị L và anh D có 02 con chung là con Hoàng Khánh L, sinh ngày 23/8/2011 và con Hoàng Khánh N, sinh ngày 13/8/2017. Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung, cần giao cho mỗi người nuôi một con là phù hợp. Con Hoàng Khánh N còn nhỏ cần giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, con Hoàng Khánh L giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L và anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản: Chị L và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị L phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D.
2. Về nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Khánh N, sinh ngày 13/8/2017. Giao cho anh Hoàng Văn D trực tiếp nuôi dưỡng con Hoàng Khánh L, sinh ngày 23/8/2011. Chị L và anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị L và anh D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cần thiết.
3. Về chia tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0009636 ngày 09 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí cho chị L.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Hoàng Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/02/2020./.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Thái Bình; - VKSND thành phố Thái Bình; - UBND phường Lê Hồng Phong, TP Thái Bình (CNKH số 62 ngày 29/11/2010); - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; - Lưu: Văn phòng Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Chu Thị Tuyết |