vanban.org

Bản án 01/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Sầm Thị H .

Về quan hệ hôn nhân: Chị Sầm Thị H được ly hôn với anh Nông Văn M. Hôn nhân giữa chị Sầm Thị H và anh Nông Văn M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con chung: Giao cho chị Sầm Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nông Đức Thiện, sinh ngày 05/8/2002 đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sầm Thị H - Nông Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Sầm Thị H .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01 /2020/HNGĐ-ST
Ngày 14- 02 - 2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Long

2. Ông Nguyễn Kim Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nhâm Đình Mạnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2019/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2019 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01 /2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Sầm Thị H , sinh năm 1982. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn: Anh Nông Văn M, sinh năm 1980. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai

Cùng ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: thôn C, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Sầm Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Sầm Thị H và anh Nông Văn M đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 11 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong quá trình chung sống bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra xích mích, cãi cọ nhau, vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân được 01 năm nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Tuy mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, thôn hòa giải xong đến nay cuộc sống vợ chồng anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Hợp đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn M.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống anh chị có một người con chung là cháu Nông Đức T, sinh ngày 05/8/2002. Khi ly hôn chị Hợp đề nghị Tòa án giải quyết cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T đến đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh M cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Về tài sản: Chị Sầm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nông Văn M đầy đủ, đảm bảo theo quy định của pháp luật nhưng anh Môn không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, anh Nông Văn M vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại phiên toà, chị Sầm Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu của mình.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai phát biểu quan điểm: Đây là vụ án“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai thụ lý là đúng thẩm quyền. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự đã được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Sầm Thị H. Xử cho chị Sầm Thị H được ly hôn với anh Nông Văn M. Về con chung: Giao cho chị Sầm Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nông Đức T, sinh ngày 05/8/2002 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Nông Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Chị Sầm Thị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã tiến hành cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nông Văn M theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Môn không đến Tòa án tham gia tố tụng. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, bị đơn anh Nông Văn M vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Chị Sầm Thị H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Sầm Thị H và anh Nông Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị Sầm Thị H trên cơ sở căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Sầm Thị H và anh Nông Văn M đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 11 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã Tả Phời, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa chị Sầm Thị H và anh Nông Văn M là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do trong quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra xích mích, cãi cọ nhau, vợ chồng không có sự thông cảm, chia sẻ. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ 01 năm nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Sầm Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Hợp đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nông Văn M. Do vậy cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Sầm Thị H là có căn cứ, phù hợp theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh chị có một người con chung là cháu Nông Đức Thiện, sinh ngày 05/8/2002 . Khi ly hôn chị Hợp đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Sầm Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và cháu Nông Đức T, sinh ngày 05/8/2002. Không yêu cầu anh M cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị H có công việc làm ổn định và có thu nhập, hiện chị đang làm nghề tự do, thu nhập trung bình hàng tháng là 5.000.000 đồng. Ngoài ra, trong bản ghi ý kiến trình bày nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hôn, cháu Nông Đức T có nguyện vọng được ở với chị H nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nông Đức Thiện cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Sầm Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản: Chị Sầm Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Sầm Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Sầm Thị H .

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Sầm Thị H được ly hôn với anh Nông Văn M. Hôn nhân giữa chị Sầm Thị H và anh Nông Văn M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Sầm Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nông Đức Thiện, sinh ngày 05/8/2002 đến khi cháu đủ 18 tuổi, Anh Nông Văn M không phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Anh Nông Văn M có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Sầm Thị H phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006347 ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lào Cai. Chị Sầm Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Sầm Thị H , bị đơn anh Nông Văn M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ