vanban.org

Bản án 01/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V. Chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Trần Thái H.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Cẩm V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng Tú Q, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Duy T, sinh ngày 10/12/2014. Anh Trần Thái H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung, mỗi con 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng)/ tháng cho đến khi con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V. Chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Trần Thái H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 07-01-2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan

Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài và ông Đặng Quang Hoạch

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 664/2019/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 18/12/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1990.

Trú tại: Số 19, đường số 5, ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trần Thái H, sinh năm 1987.

Trú tại: 332, khu 1, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị V có mặt, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm V trình bày: Chị và anh Trần Thái H tự nguyện kết hôn, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/9/2013. Vợ chồng anh chị chung sống có hai con chung tên Trần Hoàng Tú Q, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Duy T, sinh ngày 10/12/2014. Nguyên nhân chị xin ly hôn với anh H vì anh chị không có tiếng nói chung, thường bất đồng về quan điểm sống, bản thân anh H tính tình gia trưởng, cộc cằng, vũ phu nên cuộc sống hôn nhân lúc nào cũng căng thẳng, không có hạnh phúc, hiện tại vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh H. Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung tên Trần Hoàng Tú Q, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Duy T, sinh ngày 10/12/2014, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi hai con chung, mỗi con 1.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị đơn Trần Thái H vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Trần Thái H. Về con chung: Đề nghị Tòa án giao con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh H phải cấp dưỡng nuôi hai con chung, mỗi con 1.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, anh H phải nộp án phí về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Tại phiên tòa, anh Trần Thái H vắng mặt không có lý do nhưng tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:

Về yêu cầu xin ly hôn: Quan hệ giữa chị V và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì anh chị lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, mâu thuẫn phát sinh vì chị V cho rằng anh chị không hợp tính tình, không cùng quan điểm, anh H sống gia trưởng nên tình cảm không hàn gắn được. Riêng đối với chị V, Tòa án đã nhiều lần hòa giải, thuyết phục chị đoàn tụ nhưng chị kiên quyết ly hôn. Anh H cũng không đến Tòa để tham gia hòa giải. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh H trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị V được ly hôn với anh H.

Về con chung: HĐXX xét thấy chị V và anh H có hai con chung tên Trần Hoàng Tú Q, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Duy T, sinh ngày 10/12/2014. Các con chung hiện đang sống cùng với chị V, quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh H không đến Tòa án để trình bày quan điểm về việc chị V xin ly hôn và xin nuôi con nên để đảm bảo cho quyền lợi của con, cần giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị V HĐXX xét thấy để con chung của chị V và anh H có điều kiện học hành cần buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chị V nuôi hai con chung, mỗi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi như yêu cầu của chị V.

Về tài sản chung: Chị V khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V. Chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Trần Thái H.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Cẩm V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng Tú Q, sinh ngày 10/01/2013 và Trần Duy T, sinh ngày 10/12/2014. Anh Trần Thái H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung, mỗi con 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng)/ tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Không ai được cản trở quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, khi điều kiện thay đổi, đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Cẩm V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Thái H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

- Chị Nguyễn Thị Cẩm V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị V đã nộp theo biên lai thu số: 0007100, ngày 05/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị Cẩm V đã nộp đủ án phí.

- Anh Trần Thái H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ