- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị N và anh K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trung K.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| –––––––––– Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 7 - 2020 V/v ly hôn giữa chị N và anh K |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Đàm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Chiểu
2. Bà Lương Thị Nhiễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú (tạm trú): Tổ X, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. (Có mặt);
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trung K - Sinh năm 1976; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú (tạm trú): Tổ X, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2020 cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày: Nguyên đơn và bị đơn là anh Nguyễn Trung K tự nguyện chung sống với nhau từ ngày 03/01/2001, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới hỏi, vợ chồng chung sống với nhau tại xã V1, huyện V, tỉnh Hà Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, anh K thường xuyên rượu chè và ham mê cờ bạc, dẫn đến vợ chồng
- 1 -
thường xuyên cãi cọ nhau. Kể từ tháng 3/2019, hai vợ chồng chuyển khẩu lên thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Hà Giang. Đến tháng 8/2019, vợ chồng lên cư trú tại tổ 7, thị trấn Đ, huyện Đ để làm ăn kinh tế nhưng sau đó anh K vẫn ham mê cờ bạc, chị góp ý nhưng anh K không sửa chữa, thậm chí còn đánh chị nhiều lần. Kể từ tháng 04/2020 đến nay, hai vợ chồng đã sống ly thân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh K.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T (sinh ngày 21/9/2002) và cháu Nguyễn Trung D (sinh ngày 02/01/2014). Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ chung: Chị và anh K tự thỏa thuận phân chia về tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 11/6/2020, Biên bản hòa giải ngày 07/7/2020 và tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Trung K trình bày: Anh nhất trí với lời trình bày của chị Nguyễn Thị N về việc vợ chồng anh tự nguyện chung sống nhưng không đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/2001; về quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn và thời điểm sống ly thân. Nay chị N xin ly hôn, anh nhất trí vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T (sinh ngày 21/9/2002) và cháu Nguyễn Trung D (sinh ngày 02/01/2014). Khi ly hôn, anh nhất trí việc giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản, công nợ chung: Anh và chị N tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt các văn bản, quyết định tố tụng cho đương sự đầy đủ; quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn, quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, tiến hành khai mạc phiên tòa, giới thiệu thành phần Hội đồng xét xử, phổ biến quyền và nghĩa vụ của đương sự, thành phần Hội đồng xét xử đúng như đã nêu tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
- 2 -
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa điều hành trình tự, thủ tục tranh tụng đúng quy định tại Điều 249 và Điều 260 BLTTDS.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71, 72, 227 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trung K. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình để giao các cháu Nguyễn Thị T và Nguyễn Trung D cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày 21/7/2020 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Trung K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản, công nợ chung: Chị N và anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Trung K được Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về con chung và án phí; ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự, thủ tục luật định.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trung K chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/2001, nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K thường xuyên rượu chè, ham mê cờ bạc, vợ chồng bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, dẫn đến thường xuyên cãi cọ nhau, thậm chí còn có tình trạng bạo lực gia đình. Kể từ tháng 4/2020 đến nay, hai vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị N đã làm đơn đề nghị xin ly hôn với anh K, anh K nhất trí ly hôn với chị N. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi
- 3 -
hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trung K.
. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị N, anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T (sinh ngày 21/9/2002) và cháu Nguyễn Trung D (sinh ngày 02/01/2014). Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung; anh K nhất trí với ý kiến của chị N. Trên cơ sở nguyện vọng của hai bên đương sự, nguyện vọng và quyền lợi về mọi mặt của các cháu, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao các cháu Nguyễn Thị T và Nguyễn Trung D cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự đều có ý kiến là khi ly hôn tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trung K.
- 4 -
2. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Thị T (sinh ngày 21/9/2002) và cháu Nguyễn Trung D (sinh ngày 02/01/2014) cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày 21/7/2020 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Trung K không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở quyền này.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Hà Giang là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 02905 ngày 29 tháng 5 năm 2020. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - TAND tỉnh; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, vp. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Đàm |