- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Dương Thị L - Anh Hứa Văn LG"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST Ngày: 18- 3- 2020 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoàn
2. Bà Đoàn Thị Huyền
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên tham
gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 03 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 254/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dƣơng Thị L, sinh năm 1988 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm KQ, xã VL, huyện ĐH, tỉnh TN.
2. Bị đơn: Anh Hứa Văn LG, sinh năm 1986 - Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm TY, xã HB, huyện ĐH, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, cùng
các tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị L trình bày:
Chị và anh Hứa Văn LG kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban
nhân dân xã VL, huyện ĐH, tỉnh TN trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm TY, xã HB, huyện ĐH, tỉnh
TN. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, đến năm 2012 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Khoảng cuối năm 2012, do mâu thuẫn quá trầm trọng nên chị đã về nhà mẹ đẻ tại xã VL sinh sống, sau đó chị và anh LG cùng nhau vào miền Nam làm việc, tuy nhiên vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, anh LG bỏ làm về quê, khi đó chị đã mang thai đứa con thứ hai. Sau khi anh LG về được 02 tháng chị cũng nghỉ làm về quê, nhưng chị không về nhà anh LG mà về thẳng nhà bố mẹ đẻ tại xã VL ở rồi sinh con thứ hai. Từ đó cho đến nay đã gần 07 năm, vợ chồng sống ly thân, không liên lạc, không quan tâm gì tới nhau nữa.
Nay, chị xác định cuộc hôn nhân giữa chị và anh LG đã lâm vào tình trạng
trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh LG.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung, con lớn
tên là Hứa Trung H, sinh ngày 02/7/2012 hiện đang ở với bố và ông bà nội tại xã HB. Con thứ hai tên Dương Văn B, sinh ngày 03/12/2013 hiện đang ở với mẹ và ông bà ngoại tại xã VL.
Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Dương Văn B, vì hiện nay chị đang sống với bố mẹ đẻ có nhà ở, thu nhập ổn định khoảng 3 triệu đồng/tháng đủ điều kiện để nuôi 01 con chung. Đối với con chung cháu Hứa Trung H từ nhỏ cháu đã sống với bố và ông bà nội nên chị đồng ý để anh Long trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, về điều kiện nuôi con hiện anh Long cũng sống cùng bố mẹ đẻ, có nhà ở, thu nhập ổn định đủ để nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi người nuôi một con nên không phải cấp
dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
[2]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã thực hiện
việc tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Hứa Văn LG theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh LG không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định; do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/02/2020, anh Hứa Văn LG có quan
điểm: Hiện tại anh bận đi làm, không có phương tiện cũng như không có thời gian đến Tòa án để giải quyết ly hôn. Anh đồng ý ly hôn với chị Dương Thị L. Anh nhận nuôi con chung là cháu Hứa Trung H, sinh ngày 02/7/2012, không yêu cầu chị L cấp dưỡng, vì thực tế từ khi chị L bỏ đi về trên nhà bố mẹ đẻ thì anh và bố mẹ anh là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Về tài sản chung, công nợ chung không có.
[3].Tại biên bản làm việc xác định nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi
ngày 17/2/2020, cháu Hứa Trung H có nguyện vọng sau khi bố mẹ ly hôn cháu muốn tiếp tục được sống với bố và ông bà nội.
[4]. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài
liệu chứng cứ tại địa phương nơi cư trú về tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh LG. Kết quả xác định: Sau khi kết hôn, chị L và anh LG sống tại xóm TY, xã HB. Quá trình chung sống đến cuối năm 2012 thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã và sống ly thân từ đó cho đến nay đã được 07 năm.
[5]. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý đến khi
đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội
đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 21, 28, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quyết định:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị
Dương Thị L, cho chị Dương Thị L được ly hôn với anh Hứa Văn LG.
+ Về con chung: Giao con chung là Dương Trung H, sinh ngày 02/7/2012
cho anh Hứa Văn LG trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là Dương Văn B sinh ngày 03/12/2013 cho chị Dương Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng: Không xem xét, giải quyết vì các bên đương sự chưa có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết vì đương
sự không yêu cầu.
+ Án phí: Chị Dương Thị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân
và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Dương
Thị L, nơi cư trú: xóm KQ, xã VL, huyện ĐH, tỉnh TN với bị đơn anh Hứa Văn LG, nơi cư trú: xóm TY, xã HB, huyện ĐH, tỉnh TN. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu
chứng cứ và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh Hứa Văn LG theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng dân sự; tuy nhiên, anh Hứa Văn LG không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án; do vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, phải đưa ra xét xử công khai. Tại phiên tòa hôm nay anh Hứa Văn LG vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hứa Văn LG.
[2]. Về nội dung vụ án:
+ Quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Hứa Văn LG kết hôn
năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm TY, xã HB, huyện ĐH, tỉnh
TN. Quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến cuối năm 2012 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, từ đó cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn liên lạc hay quan tâm gì tới nhau nữa.
Qua đó, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc hôn nhân hiện nay giữa chị Dương
Thị L và anh Hứa Văn LG đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dương Thị L là có cơ sở chấp nhận, cho chị Dương Thị L được ly hôn với anh Hứa Văn LG là phù hợp với các quy định của pháp luật.
+ Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Hứa
Trung H, sinh ngày 02/7/2012 và Dương Văn B sinh ngày 03/12/2013.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị L có nguyện vọng
muốn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 con chung là cháu Dương Văn B và không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Đối với con chung là cháu Hứa Trung H chị L đồng ý để anh LG trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh LG có nguyện vọng muốn được trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một con chung là cháu Hứa Trung H và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Hứa Trung H hiện đã trên 07 tuổi, cháu có
nguyện vọng muốn được sống với bố và ông bà nội, trên thực tế từ nhỏ cháu đã sống với bố và ông bà nội, bản thân anh LG hiện tại có nhà ở, có thu nhập hàng tháng đảm bảo đầy đủ các điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối với cháu Dương Văn B từ nhỏ cháu đã sống với mẹ và ông bà ngoại, chị L có nhà ở và có thu nhập hàng tháng đảm bảo đầy đủ các điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung sau khi vợ chồng ly hôn thì cần giao cháu H cho anh LG trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu B cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc tới khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự chưa có yêu cầu nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự xác định không có và
không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Dương Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 174, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Dương Thị L, cho chị Dương Thị L được ly hôn với anh Hứa Văn LG.
2. Về con chung: Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014. Giao con chung là Hứa Trung H, sinh ngày 02/7/2012 cho anh Hứa Văn LG trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc tới khi có sự thay đổi khác. Giao con chung là Dương Văn B sinh ngày 03/12/2013 cho chị Dương Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc tới khi có sự thay đổi khác.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung đối với chị Dương Thị L và
anh Hứa Văn LG vì cả hai chưa ai có yêu cầu.
Chị Dương Thị L, anh Hứa Văn LG có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom
con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng cho con chung.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên
Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
4. Án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Dương Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016506 ngày 29/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Chị Dương Thị L đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Dương Thị L, vắng mặt anh Hứa Văn
LG. Báo cho chị L biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh LG có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ; - UBND xã Hòa Bình, huyện Đồng Hỷ; - Lưu: HS, bộ phận HNGĐ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |