- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Th ly hôn với ông H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu Th về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với ông Trương Ngọc H , xử cho bà Bùi Thị Thu Th và ông Trương Ngọc H được ly hôn với nhau.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST Ngày 20/01/2020. Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Nguyễn Thị Tài.
2. Bà: Phan Thị Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B , tỉnh Lâm
Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B , tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Anh-Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B , tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 200/2019/TLHNGĐ-ST ngày 09/9/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXX-ST ngày 18/12/2019; quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐDS-ST ngày 03/01/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Bích Th , sinh năn 1974; địa chỉ: Thôn 1, xã Lộc Th , huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Có đơn đề nghị vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Trương Ngọc H , sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn 1, xã Lộc Th , huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Tại đơn khởi kiện ngày 02/9/2019, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Bà Th và ông H có tìm hiểu yêu nhau được 01 năm thì quyết định đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Thành, huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 07/6/1996. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì, được gia đình hai bên đồng ý có tổ chức lễ cưới. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, ông H thường xuyên rượu chè, cờ bạc, đánh đập vợ con, có người phụ nữ khác bên ngoài và đe dọa chém bà và các con. Bà và ông H đã sống ly thân từ đầu tháng 8/2017 cho đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy bà Th yêu cầu được ly hôn với ông H .
* Về con chung: Bà Th xác nhận vợ chồng có 03 con chung gồm Trương Thị Thu Thảo, sinh ngày 06/8/1997; Trương Thị Thảo Vi, sinh ngày 10/12/2000 và Trương Thị Kiều Duyên, sinh ngày 27/3/2005. Nay ly hôn bà có nguyện vọng nhận nuôi con là cháu Duyên, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Thu Thảo và cháu Thảo Vi đã trưởng thành, có gia đình riêng, có công việc ổn đinh, không mất năng lực hành vi dân sự nên bà không yêu cầu giải quyết.
* Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không đến làm việc, không có bất kỳ lời trình bày nào.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Th và ông H được ly hôn với nhau; giao con là cháu Trương Thị Kiều Duyên cho bà Th nuôi dưỡng và buộc bà Th phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Th có đơn đề nghị vắng mặt, ông H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Th , ông H có tìm hiểu yêu nhau và tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Thành, huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 07/6/1996; hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì nên quan hệ hôn nhân của bà Th , ông H là hợp pháp.
Tòa án triệu tập ông H nhiều lần để hòa giải nhưng ông H không đến điều này cho thấy ông H bỏ mặc hôn nhân của mình, không muốn sống chung với bà Th nữa. Qua xác minh tại địa phương thể hiện ông H thường xuyên chơi đánh bạc, uống rượu, không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau làm ảnh hưởng đến bà con hàng xóm. Điều này cho thấy hôn nhân của bà Th , ông H đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu bà Th , xử cho bà Th và ông H được ly hôn với nhau.
Về con chung: Việc giao con cho ai cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con. Xét thấy cháu Duyên có nguyện vọng được sống với mẹ và được bà Th đồng ý. Để không làm xáo trộn nơi ở và môi trường học tập của con nên cần tiếp tục giao con cho bà Th nuôi dưỡng; bà Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Th phải chịu án phí ly hôn, theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu Th về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với ông Trương Ngọc H , xử cho bà Bùi Thị Thu Th và ông Trương Ngọc H được ly hôn với nhau.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Thị Kiều Duyên, sinh ngày 27/3/2005 cho bà Bùi Thị Thu Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; bà Th không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, chăm sóc con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.”
3. Về án phí: Buộc bà Bùi Thị Bích Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0013129 ngày 09/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Bà Th đã nộp xong).
4. Về quyền kháng cáo: Bà Th , ông H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (2) - VKS huyện B ; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Các Đương sự; - CC.THADS huyện B ; - UBND xã Lộc Thành; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN Phan Thị Hà Nguyễn Thị Tài | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh |