- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định hành chính"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Nguyễn Đình C. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 02/2019/HC-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 204 Luật tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HC-PT Ngày 27/5/2020 “V/v khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định hành chính” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Dung
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Anh
Ông Vũ Việt Dũng
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Hữu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Trịnh Anh Sơn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Vào các ngày 12 và 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 09/2019/ TLPT-HC ngày 27 tháng 12 năm 2019 về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định hành chính”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 03/2019/HC-ST ngày 21 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2020/QĐ-PT ngày 04 tháng 02 năm 2020 giữa:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đình C, sinh năm: 1969
Địa chỉ: Số 7xx, đường Trần Cao V, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng.
2. Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng.
Cùng địa chỉ trụ sở: Số 4xx, đường Trần Cao V, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng.
3 Người kháng cáo: Người khởi kiện Ông Nguyễn Đình C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/7/2019, tại biên bản đối thoại ngày 24/9/2019 ông Nguyễn Đình C trình bày:
Ngày 12/4/2019, ông có Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin. Đến ngày 10/5/2019, UBND phường Xuân H có Thông báo số 269/TB-UBND từ chối yêu cầu cung cấp thông tin Báo cáo số 141/BC-UBND ngày 21/3/2017 của UBND phường Xuân H và chưa có thông báo giải quyết cung cấp thông tin đối với Biên bản làm việc ngày 21/3/2017 của UBND phường Xuân H.
Ngày 17/5/2019, ông có đơn khiếu nại đối với Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 của UBND phường Xuân H về hành vi hành chính chậm trễ thời gian giải quyết phiếu yêu cầu cung cấp thông tin ngày 12/4/2019 của ông, ông không đồng ý đối với UBND phường Xuân H về hành vi chưa có Thông báo giải quyết cung cấp thông tin, chưa sao y bản chính trước khi cung cấp thông tin Biên bản ngày 21/3/2017 của UBND phường Xuân H cho công dân theo quy định tại Điều 29 của Luật tiếp cận thông tin năm 2016. Sự thật trong đơn khiếu nại có lý do căn cứ theo nội dung quy định tại Điều 6 Luật tiếp cận thông tin năm 2016 thì trường hợp báo cáo số 141/BC-UBND ngày 21/3/2017 của UBND phường Xuân H là hiển nhiên giải quyết các vấn đề của ông đề nghị UBND các cấp xử lý khắc phục hậu quả đối với ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị M đã có hành vi lấn chiếm đất đai để khai man hồ sơ đất đai để đăng ký quyền sử dụng đất ở số nhà 7xx đường Trần Cao V, phường Xuân H, quận Thanh K. Đồng thời, ông gửi kèm theo đơn khiếu nại gồm có các tài liệu, chứng cứ chứng minh để khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật, chứng minh công lao tố cáo của mình và khẳng định Báo cáo số 141/BC-UBND ngày 21/3/2017 của UBND phường Xuân H không phải thông tin có chứa nội dung độc hại chống phá tư tưởng nền tảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và không “trù dập” Quốc hội với Chính phủ, làm cho thẩm quyền của Quốc hội và Chính phủ không mất đi sự thật về chính sách pháp luật giải quyết ranh giới, mốc giới đất đai hợp pháp của gia đình ông.
Ngày 05/7/2019, Chủ tịch UBND phường Xuân H ban hành Quyết định số 191/QĐ-UBND trong đó có chứa nội dung khiếu nại: “Ông Nguyễn Đình C cho rằng trong quá trình thụ lý giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin theo phiếu yêu cầu thông tin đề ngày 12/4/2019, UBND phường Xuân H ban hành Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 về việc từ chối yêu cầu cung cấp thông tin là trái với quy định tại Điều 6 Luật tiếp cận thông tin ngày 06/4/2016”.
Căn cứ theo quy định của Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố tụng hành chính năm 2015 ông yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
Hủy Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch UBND phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng và hủy Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 của Chủ tịch UBND phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng về từ chối yêu cầu cung cấp thông tin đối với Báo cáo số 141/BC-UBND ngày 21/3/2017 của UBND phường Xuân H và hành vi chưa thông báo giải quyết cung cấp thông tin đối với Biên bản làm việc ngày 21/3/2019 của UBND phường Xuân H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
* Tại văn bản gửi Tòa án, biên bản đối thoại ngày 24/9/2019, đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày:
Ông C có gửi phiếu yêu cầu ghi ngày 12/4/2019 yêu cầu UBND phường Xuân H cung cấp Báo cáo số 141/BC-UBND ngày 21/3/2017 về việc xác minh ranh giới phần tường rào của ông Trần Văn T. Vì vậy, UBND phường Xuân H đã ban hành Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 về việc từ chối yêu cầu cung cấp thông tin bởi các lý do: Báo cáo số 141/BC-UBND là văn bản do cơ quan Nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ. Căn cứ Khoản 2, Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin số 104/2016/QH13 ngày 06/4/2016 quy định công dân không được tiếp cận nếu UBND phường từ chối cung cấp Báo cáo số 141/BC-UBND cho ông C là phù hợp với quy định của pháp luật.
Nhận được Thông báo số 269/TB-UBND, ông C tiếp tục gửi đơn khiếu nại ngày 17/5/2019 đến UBND phường. Một lần nữa, chủ tịch UBND phường Xuân H khẳng định việc ông C khiếu nại Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 đến UBND phường Xuân H về việc từ chối yêu cầu cung cấp thông tin là không đúng và đã giải thích cụ thể với ông C là những thông tin công dân chưa đủ điều kiện tiếp cận hoặc không có quyền yêu cầu cung cấp, UBND phường đã thực hiện đúng Luật tiếp cận thông tin về việc từ chối cung cấp thông tin thể hiện trong Biên bản đối thoại giữa UBND phường Xuân H và ông C.
Vì vậy, Chủ tịch UBND phường Xuân H ban hành Quyết định số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Nguyễn Đình C. Tuy nhiên, ông C vẫn không đồng ý và gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Thanh Khê.
Xem xét cả quá trình thực hiện giải quyết kiến nghị của ông Nguyễn Đình C tại địa phương, UBND phường Xuân H đã giải quyết nội dung đơn của ông Nguyễn Đình C đúng quy định pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân quận xem xét không giải quyết đơn khởi kiện của ông C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án xác định Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hành chính về thụ lý và giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định trong luật tố tụng hành chính. Thủ tục tại phiên tòa từ lúc khai mạc phiên tòa đến trước lúc Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính. Về nội dung, Kiểm sát viên xác định yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là không có căn cứ, Quyết định giải quyết khiếu nại số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H là đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người bị kiện.
Với nội dung trên án sơ thẩm đã tuyên và quyết định:
- Căn cứ Điều 3; khoản 1 Điều 31, Điều 115, Điều 117, Khoản 1 Điều 158 của Luật tố tụng hành chính;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 6 Luật tiếp cận thông tin.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình C đối với yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng và Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 12 tháng 12 năm 2019 ông Nguyễn Đình C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm số 02/2019/HC-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện – ông Nguyễn Đình C, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 02/2019/HC-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra lại tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm đối với việc giải quyết vụ án. Sau khi nghị án thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với người bị kiện tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, ngày 03/3/2020 người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Xuân H và Ủy ban nhân dân phường Xuân H quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ nên căn cứ vào 225 Luật tố tụng hành chính, HĐXX phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện.
Tại phần tranh tụng của phiên tòa ngày 12/5/2020, người kháng cáo ông Nguyễn Đình C xin HĐXX một giờ ra uống thuốc vì cảm thấy mệt do buổi sáng tham gia tố tụng phiên tòa phúc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao. Sau một giờ, ông không quay trở lại mà cho người nhà thông tin báo với HĐXX là ông đang ở bệnh viện vì vậy HĐXX quyết định tạm ngưng phiên tòa và ấn định mở lại vào lúc 08 giờ ngày 27/5/2020. Ngay sau khi HĐXX quyết định tạm ngưng phiên tòa thì ông quay lại Tòa án trình sổ khám bệnh và nêu lý do sức khỏe nên không thể tiếp tục tham gia phiên tòa. Ngày 27/5/2020, phiên tòa được tiếp tục, ông C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt ông C vì lý do tạm ngưng không còn.
Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Đình C khởi kiện Quyết định giải quyết khiếu nại số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng và Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 của Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố tụng hành chính.
Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại” là chưa đầy đủ vì ông Nguyễn Đình C ngoài khiếu kiện yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh K, thành phố Đà Nẵng còn yêu cầu hủy Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 của Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính” theo khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Đối với việc xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này Tòa án sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Riêng đối với hành vi chưa thông báo giải quyết cung cấp thông tin đối với Biên bản làm việc ngày 21/3/2019 của UBND phường Xuân H, quận Thanh Kh thì ông Nguyễn Đình C đã được nhận Biên bản làm việc ngày 21/3/2019 nên HĐXX không đề cập.
Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Đình Ch vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo cho rằng án sơ thẩm xử bác đơn khởi kiện của ông là trái quy định của pháp luật. Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đình C, HĐXX nhận định:
Ngày 12/4/2019, ông Nguyễn Đình C gởi phiếu yêu cầu UBND phường Xuân H cung cấp Báo cáo số 141/BC-UBND ngày 21/3/2017 về việc xác minh ranh giới phần tường rào của ông Trần Văn T. Sau khi xem xét yêu cầu thì ngày 10/5/2019 Chủ tịch UBND phường Xuân H ban hành thông báo số 269/TB-UBND với nội dung từ chối yêu cầu cung cấp báo cáo số 141/BC-UBND do Chủ tịch UBND phường Xuân H ban hành cho ông Nguyễn Đình C, bởi ông không thuộc trường hợp được tiếp cận. HĐXX phúc thẩm xét, Báo cáo số 141/BC-UBND là văn bản do UBND phường Xuân H soạn thảo báo cáo cho UBND quận Thanh Khê về việc xác định ranh giới phần tường rào của ông Trần Văn T trên cơ sở thực hiện nội dung công văn của UBND quận Thanh Khê. Như vậy, Báo cáo số 141/BC-UBND của UBND phường Xuân H là tài liệu do cơ quan Nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ. Chủ tịch UBND phường Xuân H ban hành thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 từ chối yêu cầu cung cấp thông tin cho ông Nguyễn Đình C đúng với quy định tại khoản 2 Điều 6 và phù hợp với nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin quy định tại Điều 3 của Luật Tiếp cận thông tin.
Không đồng ý với Thông báo số 269/ TB-UBND ngày 10/5/2019 của Chủ tịch UBND phường Xuân H, quận Thanh K, ông Nguyễn Đình C khiếu nại lần đầu và Chủ tịch UBND phường Xuân H ban hành Quyết định 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Đình C lần đầu với nội dung giữ nguyên Công văn số 269/TB-UBND của Chủ tịch UBND phường Xuân H về từ chối yêu cầu cung cấp thông tin và không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Nguyễn Đình C như phân tích tại mục [2.1] là có căn cứ pháp luật.
Đối với Đơn tố giác tội phạm, không thuộc phạm vi xem xét giải quyết trong vụ án và đã được Tòa án cấp sơ thẩm xử lý, HĐXX phúc thẩm không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đình C, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đình C, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đề nghị này phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Nguyễn Đình C phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;
Bác kháng cáo của ông Nguyễn Đình C. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 02/2019/HC-ST ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Xử:
Căn cứ các Điều 3, 30, 31, 193, 204, 206 và 225 Luật tố tụng hành chính; Điều 3, khoản 2 Điều 6 Luật tiếp cận thông tin; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình C đối với yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 191/QĐ-UBND ngày 05/7/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng và Thông báo số 269/TB-UBND ngày 10/5/2019 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Xuân H, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
2. Án phí phúc thẩm ông Nguyễn Đình C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông Nguyễn Đình C đã nộp theo biên lai thu số 1582 ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Đà Nẵng; - TAND quận Thanh Khê; - Cục THADS TP Đà Nẵng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Ngọc Dung |