vanban.org

Bản án 01/2020/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 10/01/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo c a ông Nguyễn Văn V, giữ nguyên quyết định c a ản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên.

Miễn án phí h nh chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn V - Trưởng Công an TPTN"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo c a ông Nguyễn Văn V, giữ nguyên quyết định c a ản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên.
  • Căn cứ chính? Điều 349 Luật tố tụng h nh chính; Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 225 Luật tố tụng h nh chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HC-PT
Ngày: 10/01/2020
“V/v khiếu kiện quyết định
xử phạt vi phạm hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguyễn T t T

Các Thẩm phán: Ông Bằng Công Hv bà Trần Thị N.

- Thư ký phiên tòa: B Trần Thị D - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tr - Kiểm sát viên Trung c p.

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 03/2019/TLPT- HC ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc: “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm h nh chính”. Do Bản án h nh chính sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo c a người khởi kiện. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXPT-HC ngày 30/12/2019, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện kháng cáo: ng Nguyễn Văn V, sinh năm 1950;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 8B, phường TL, th nh phố TN, tỉnh TN. (Có mặt tại phiên tòa).

2. Người bị kiện: Trưởng Công an th nh phố TN;

Người đại diện theo pháp luật: ng Phạm Thanh H, chức vụ: Trưởng Công an th nh phố Thái Nguyên. (V ng mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo y quyền c a người bị kiện: Ông Lê Xuân T, chức vụ: Phó Trưởng Công an th nh phố TN. (V ng mặt tại phiên tòa c đơn xin x t xử v ng mặt).

Địa chỉ: Số 27, đường Ho ng Văn Thụ, tổ 01, phường PĐP, th nh phố TN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đ n kh i kiện và l i khai c a ngư i kh i kiện là ông Nguyễn Văn V trình bày: Khoảng 12 giờ 30 phút ng y 18/12/2018, ông phát hiện anh Nguyễn Minh Đ ở xóm Đồng Ao, xã Đồng Liên, th nh phố TN đang hái quả cây trứng g c a nhà Chỉ ở tổ 21, phường Phan Đình Phùng, th nh phố TN do ông trông coi (Nhà đ t theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t l c a Nguyễn Thị Chỉ ông V đến sống chung như vợ chồng với Chỉ từ năm 1996) năm 2017 Chỉ về sống với em trai ở huyện Phú Bình, khi Chỉ đi có nhờ ông V thi thoảng qua trông nom nhà cho bà. Qua nói chuyện với anh Đ ông V không đồng ý với giá tiền anh Đ đã th a thuận mua quả cây trứng g với Chỉ, ông yêu cầu anh Đ phải trả cho ông 1.000.000 đồng (một triệu đồng), anh Đ không trả v quay xe định đi thì ông V đã 02 lần đẩy đổ xe v tháo hơi ánh trước không cho anh Đ đi, anh Đ đã l y c nh cây ven đường đập v o mu n tay v kh y tay trái c a ông nhiều lần. Hai ên giằng co nhau, ông đã nhặt 01 viên đá lát đường đập v o sau tai trái c a anh Đ, gây chảy máu. Công an th nh phố TN cho hai bên đi giám định thương tích, kết quả giám định ông V ị tổn hại 2% sức kh e, anh Đ ị tổn hại 1% sức kh e. Ông đã có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự đối với anh Đ, khoảng ng y 25/01/2019 ông V đã nhận được Thông áo về việc không khởi tố vụ án hình sự, ông đồng ý v không có ý kiến gì.

Ngày 30/01/2019 Trưởng Công an th nh phố TN l ông Phạm Thanh H đã ký an h nh Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 0075491/QĐ - XPHC đối với ông vì đã thực hiện h nh vi vi phạm h nh chính đánh nhau xảy ra ng y 18/12/2018 quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5, mức tiền phạt 750.000 đồng. Ông V cho rằng Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính nêu trên an h nh trái pháp luật, không có căn cứ ởi lẽ trong quyết định tại phần căn cứ không có 03 iên ản, cụ thể như không căn cứ vào Biên bản vi phạm h nh chính lập ngày tháng năm nào; không căn cứ vào iên ản giải trình trực tiếp nào; không căn cứ vào biên ản xác minh tình tiết c a vụ việc vi phạm h nh chính nào. Ông Phạm Thanh H đã vu khống, xúc phạm danh dự c a ông, ạo lực tinh thần, gây ức xúc.

Ông V yêu cầu Tòa án h y Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 0075491/QĐ - XPHC ng y 30/01/2019 c a Trưởng Công an th nh phố TN, đồng thời yêu cầu Trưởng Công an th nh phố Thái Nguyên phải ồi thường cho ông số tiền 212.240.000 đồng, (Bao gồm: Ng y công lao động, tiền ồi thường do l m trái pháp luật, tiền ồi thường danh dự, tiền công chứng t i liệu) v phải có văn ản xin lỗi ông, thông báo cho UBND phường, Công an phường TL phục hồi danh dự cho ông. Tại phiên tòa sơ thẩm ông bổ sung yêu cầu bồi thường là 241.205.000 đồng.

- Tại văn b n ngày 02/4/2019, đại diện theo y quyền c a ngư i bị kiện là ông Lê Xuân Tư ng - Phó Trư ng Công an thành ph Thái Nguyên trình bày: Ngày 16/12/2018 anh Đ đến nh

Chỉ, mục đích để mua quả cây trứng g , khi đến không th y có ai ở nh nên đã g i điện thoại cho Chỉ, hai ên đã thống nh t mua án với giá 500.000 đồng. Sáng ngày 18/12/2018 anh Đ đến nh

Chỉ hái quả trứng g , đến khoảng 12 giờ thì ông V đến v không cho anh Đ hái, anh Đ trình y đã h i mua c a Chỉ trước đó rồi đồng thời g i điện cho bà Chỉ để nói rõ sự việc cho ông V, nhưng ông V không đồng ý và yêu cầu anh Đ phải trả cho ông 1.000.000 đồng mới được mang số quả cây trứng gà đã hái đi. Sau đó hai người cãi nhau, anh Đ dắt xe b đi thì Ông V du đổ xe anh Đ và xì hơi lốp xe mô tô c a anh Đ. Anh Đ nói nhưng ông V không dừng lại nên anh Đ nhặt 01 c nh cây vụt 01 nhát v o mu n tay trái ông V. Ông V tiếp tục du đổ xe anh Đ thì chiếc cờ lê từ cốp xe văng ra, anh Đ nhặt lên v gõ 01 cái v o mu n tay trái c a ông V, hai bên giằng co, ông V nhặt 01 hòn đá kích thước 13 x13 cm đập trúng đầu anh Đ. Công an phường Phan Đình Phùng đã lập hồ sơ vụ việc v chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an th nh phố TN để điều tra theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, anh Nguyễn Minh Đ và ông Nguyễn Văn V đã khai nhận h nh vi c a ản thân như trên, phù hợp với các t i liệu điều tra thu thập được, theo đó h nh vi c a ông V và anh Đ có d u hiệu c a tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu bị hại) tuy nhiên ngày 21/01/2019 và ngày 23/01/2019 anh Nguyễn Minh Đ và ông Nguyễn Văn V đã tự nguyện viết đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự gửi đến Công an th nh phố TN. Do đó ng y 25/01/2019 Cơ quan điều tra Công an th nh phố TN đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Căn cứ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Anh Đ và ông V đã có h nh vi đánh nhau vi phạm điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/NĐ - CP/2013, mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Căn cứ khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm h nh chính, ông V và anh Đ không có tình tiết giảm nhẹ nên số tiền xử phạt vi phạm h nh chính mỗi người l 750.000 đồng.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 24 v điểm khoản 4 Điều 39 Luật xử lý vi phạm h nh chính, thẩm quyền xử phạt h nh chính c a Trưởng Công an th nh phố TN. Căn cứ Điều 63 Luật xử lý vi phạm h nh chính, vụ việc đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, không phải lập iên ản vi phạm h nh chính, việc ban hành quyết định xử phạt trên là đúng thời hạn, thời hiệu.

Căn cứ Điều 59 v Điều 61 Luật xử lý vi phạm h nh chính thì trường hợp xử phạt vi phạm h nh chính đối với ông V, anh Đ không phải lập iên ản xác minh tình tiết vụ việc vi phạm, không thuộc trường hợp phải giải trình.

Do đó, ng y 30/01/2019 Trưởng Công an th nh phố TN đã an h nh Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 0075491/QĐ-XPHC đối với ông Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Minh Đ về h nh vi “ Đánh nhau” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 5 Nghị định 167/NĐ - CP/2013, mức tiền phạt mỗi người l 750.000 đồng. Việc an h nh quyết định h nh chính trên l đúng thời hạn, thời hiệu, đã được tống đạt cho anh Đ và ông V.

Căn cứ các t i liệu thu thập được, việc an h nh quyết định xử phạt vi phạm h nh chính c a Trưởng Công an th nh phố TN l đúng trình tự, đúng quy định. Việc khởi kiện c a ông V l không có căn cứ, Trưởng Công an th nh phố TN giữ nguyên quan điểm về việc ra quyết định xử phạt vi phạm h nh chính đối với ông V.

Tại b n án hành chính s thẩm s 04/2019/HC-ST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên đã quyết định: “Căn cứ Điều 3 khoản 1 Điều 30 khoản 1 Điều 31 Điều 115 Điều 116 khoản 1 Điều 157 Điều 193 Điều 204 Điều 206 Điều 348 Luật tố tụng hành chính; Căn cứ Điều 6 khoản 4 Điều 23 khoản 1 Điều 24 khoản 4 Điều 39 Điều 63 Điều 68 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội phòng chống tệ nạn xã hội phòng cháy và chữa cháy phòng chống bạo lực gia đình; Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ; Căn cứ Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V về việc hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0075491/QĐ-XPHC ngày 30/01/2019 của Trưởng Công an thành phố TN và yêu cầu Trưởng Công an thành phố TN ông Phạm Thanh H phải bồi thường cho ông số tiền 241.205.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm linh năm nghìn đồng) và phải công khai xin lỗi bằng văn bản”.

Ngo i ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí h nh chính sơ thẩm v quyền kháng cáo c a các đương sự theo quy định c a pháp luật.

Ngày 27/9/2019, người khởi kiện l ông Nguyễn Văn V có đơn kháng cáo với 02 nội dung:

1- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên h y ản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên do Thẩm phán – Ch t a phiên tòa l

Chu Thị Bích Hiền tuyên;

2- Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên giải quyết đơn khởi kiện c a tôi v uộc Chu Thị Bích Hiền ồi thường cho tôi số tiền 81.991.000 đồng (17 tháng lương thợ nề ậc 4/7).

(Người ị kiện không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và rút một phần nội dung kháng cáo về việc uộc Chu Thị Bích Hiền ồi thường số tiền 81.991.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TN tham gia phiên tòa phát iểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật c a Thẩm phán v Hội đồng xét xử tại giai đoạn phúc thẩm l đúng pháp luật tố tụng h nh chính. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 7, khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng h nh chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy an thường vụ Quốc hội. Bác kháng cáo c a ông Nguyễn Văn V, giữ nguyên ản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên; miễn án phí h nh chính phúc thẩm cho ông V.

Căn cứ v o t i liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng:

. Đối tượng ị khởi kiện l Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 0075491/QĐ-XPHC ngày 30/01/2019 c a Trưởng Công an th nh phố Thái Nguyên (Viết tắt l Quyết định 0075491/QĐ-XPHC). Ngày 15/02/2019 ông V nhận được Quyết định 0075491/QĐ-XPHC. Do không đồng ý với quyết định n y nên ngày 19/02/2019 ông V đã nộp đơn khởi kiện Quyết định 0075491/QĐ-XPHC tại Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên. Căn cứ Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì ông V khởi kiện trong thời hiệu pháp luật quy định. Đối tượng ị khởi kiện l Quyết định h nh chính do Trưởng Công an th nh phố Thái Nguyên an h nh, căn cứ khoản 1 Điều 31 Luật tố tụng h nh chính thì Tòa án c p sơ thẩm thụ lý v giải quyết vụ án l đúng thẩm quyền.

. Đơn kháng cáo c a người khởi kiện l ông Nguyễn Văn V l m trong hạn luật định, có hình thức phù hợp với quy định tại Điều 205 c a Luật tố tụng h nh chính nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Xét nội dung kháng cáo: Ông Nguyễn Văn V kháng cáo đề nghị h y ản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên vì ông cho rằng ản án an h nh trái pháp luật l m ảnh hưởng đến quyền lợi c a ông, cụ thể: Ông cho rằng h nh vi dùng đá đập v o đầu anh Đ l h nh vi phòng vệ chính đáng, ông không có lỗi nên Công an th nh phố Thái Nguyên không thể xử phạt vi phạm h nh chính đối với ông được; Việc Trưởng Công an th nh phố Thái Nguyên an h nh Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 0075491/QĐ – XPHC ng y 30/01/2019 không ghi căn cứ v o các iên ản vi phạm h nh chính, iên bản phiên giải trình trực tiếp, iên ản xác minh tình tiết c a vụ việc vi phạm h nh chính l trái quy định; Tại phiên tòa sơ thẩm ông đề nghị thay đổi Kiểm sát viên Ho ng Thị Diệu Ng c vì cho rằng Kiểm sát viên n y đã tham gia kiểm sát việc xử lý tin áo tội phạm ngay từ đầu, nay lại tham gia xét xử đối với vụ án l không khách quan, nhưng không được Hội đồng xét xử chập nhận, gây ảnh hưởng đến quyền lợi c a ông.

Qua nghiên cứu các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử th y rằng:

Ngày 18/12/2018 ông V và anh Đ có h nh vi đánh nhau tại tổ 21, phường Phan Đình Phùng, th nh phố Thái Nguyên d n đến cả hai ên đều ị thương tích, sự việc đã được ông V v anh Đ thừa nhận. Các t i liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khi ông V yêu cầu anh Đ phải trả 1.000.000 đồng tiền giá trị quả trứng g đã hái, thay vì trả 500.000 đồng như th a thuận với Chỉ, anh Đ không đồng ý nên bảo đợi bà Chỉ về giải quyết rồi dắt xe b đi thì Ông V du đổ xe anh Đ v xì hơi lốp xe mô tô c a anh Đ, anh Đ can ngăn nhưng ông V không nghe v n tiếp tục du đổ xe v xì hơi lốp xe lần thứ hai nên anh Đ đã nhặt c nh cây vụt 01 nhát v o mu n tay trái ông V. Ông V tiếp tục du đổ xe anh Đ thì chiếc cờ lê từ cốp xe văng ra, anh Đ nhặt lên v gõ 01 cái v o mu n tay trái c a ông V, hai bên giằng co, ông V nhặt 01 hòn đá kích thước 13 x 13 cm đập trúng đầu anh Đ gây chảy máu. Tại Điều 2 Luật xử lý vi phạm h nh chính có quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước của tổ chức bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang c hành vi xâm phạm quyền lợi ích n i trên”. Trong trường hợp n y, chính ông V l người có lỗi trước d n đến xô sát, nếu ông V không du đổ xe v xì hơi lốp xe c a anh Đ thì không có sự việc anh Đ dùng c nh cây, cờ lê vụt v o tay ông V. Trong các ản khai c a ông V tại Cơ quan điều tra đều thể hiện, khi ông giằng cờ lê từ tay anh Đ không được nên đã nhặt đá đập v o đầu anh Đ gây chảy máu. Như vậy, cho th y đây không phải l trường hợp phòng vệ chính đáng. H nh vi trái pháp luật c a ông V lẽ ra phải được xử lý ằng pháp luật hình sự, nhưng do anh Đ không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thái Nguyên đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự (số 53 ngày 25/01/2019) v sau 03 ng y (ngày 28/01/2019) Cán ộ Đội Điều tra tổng hợp Công an th nh phố TN đã có văn bản đề nghị xử phạt vi phạm h nh chính đối với ông Nguyễn Văn V v anh Nguyễn Minh Đ đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm h nh chính v đã được Lãnh đạo Cơ quan CSĐT Công an th nh phố Thái Nguyên duyệt đồng ý chuyển xử lý h nh chính. Ngày 30/01/2019 Trưởng Công an th nh phố TN đã an h nh Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính số 0075491/QĐ – XPHC đối với ông V do đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: “Đánh nhau...” l phù hợp với quy định c a pháp luật, cụ thể:

Tại Điều 63 Luật xử lý vi phạm h nh chính có quy định: “1. Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý giải quyết nhưng sau đ lại c quyết định không khởi tố vụ án hình sự…, nếu hành vi c dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ tang vật phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người c thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến.

Trường hợp cần thiết người c thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày”.

Căn cứ khoản 1 Điều 24 v khoản 4 Điều 39 Luật xử lý vi phạm h nh chính; khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 c a Chính ph Quy định xử phạt vi phạm h nh chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an to n xã hội ... thì Trưởng Công an th nh phố TN l người có thẩm quyền ban h nh quyết định xử phạt vi phạm h nh chính đối với ông V. Quyết định 0075491/QĐ - XPHC có nội dung xử phạt vi phạm h nh chính đối với ông Nguyễn Văn V do đã thực hiện h nh vi vi phạm hành chính “đánh nhau...” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 c a Chính ph , mức tiền phạt 750.000 đồng l phù hợp.

Về hình thức quyết định: Quyết định số 0075491/QĐ-XPHC được an h nh theo M u số 02 Phụ lục (Một số iểu m u trong xử lý vi phạm h nh chính Ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ng y 18 tháng 8 năm 2017 c a Chính ph ). Phần nội dung c a quyết định được ghi đầy đ , rõ r ng theo quy định tại Điều 68 Luật xử lý vi phạm h nh chính. Tại phần căn cứ trong Quyết định 0075491/QĐ-XPHC ngày 30/01/2019 có ghi “Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính số ... Căn cứ Biên bản phiên giải trình trực tiếp số...Căn cứ biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính...”, theo quy định tại Điều 59, Điều 61, Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính vụ việc vi phạm đã có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, không phải lập biên bản xác minh tình tiết vụ việc vi phạm hành chính cũng như không thuộc trường hợp phải giải trình. Công an thành phố TN sử dụng hình thức c a m u Quyết định số 02 l đúng, tuy nhiên trong trường hợp xử lý vi phạm cụ thể n y cán ộ soạn thảo không đi phần căn cứ các iên ản m để trống là chưa phù hợp, Công an thành phố TN cần rút kinh nghiệm.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên thì việc Trưởng Công an th nh phố Thái Nguyên an h nh Quyết định 0075491/QĐ - XPHC l có căn cứ, đúng thời hạn, thời hiệu, đúng trình tự, th tục v đúng thẩm quyền theo luật định.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án c p sơ thẩm đã thu thập đầy đ các t i liệu, chứng cứ, tiến h nh các ước tố tụng từ khi nhận đơn, thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm đúng quy định c a pháp luật. Việc ông V xin thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, đối chiếu với quy định tại các Điều 45, 50 Luật tố tụng h nh chính về các trường hợp Kiểm sát viên phải từ chối tiền h nh tố tụng, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã giải quyết v không ch p nhận việc ông V xin thay đổi Kiểm sát viên l có căn cứ v đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông V cũng không xu t trình thêm được t i liệu, chứng cứ n o khác, do đó Hội đồng xét xử th y không có căn cứ để ch p nhận kháng cáo c a ông về việc đề nghị Tòa án c p phúc thẩm h y ản án h nh chính sơ thẩm.

Về nội dung kháng cáo: “ êu cầu Tòa án nhân dân t nh Thái Nguyên giải quyết đơn khởi kiện của tôi và buộc bà Chu Thị Bích Hiền bồi thường cho tôi số tiền 81.991.000 đồng (17 tháng lương thợ nề bậc 4/7)”. Tại phiên tòa phúc thẩm ông V xin rút phần kháng cáo n y, tuy nhiên nội dung kháng cáo n y vượt quá phạm vi khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên th y rằng Tòa án c p sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện c a ông Nguyễn Văn V l có căn cứ, đúng pháp luật. kiến phát iểu c a Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên ác kháng cáo c a ông V v giữ nguyên ản án h nh chính sơ thẩm l có căn cứ, cần được ch p nhận.

3 . Về án phí h nh chính phúc thẩm: Trường hợp kháng cáo không được ch p nhận, lẽ ra người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, tuy nhiên ông Nguyễn Văn V thuộc đối tượng người cao tuổi (sinh năm 1950) đã có đơn xin miễn án phí phúc thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ng y 30 tháng 12 năm 2016 c a Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án Hội đồng xét xử miễn án phí h nh chính phúc thẩm cho ông V.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 225, khoản 1 Điều 241, khoản 1 Điều 349 c a Luật tố tụng h nh chính năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ng y 30 tháng 12 năm 2016 c a Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;

1. Bác kháng cáo c a ông Nguyễn Văn V, giữ nguyên quyết định c a ản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ng y 26/9/2019 c a Tòa án nhân dân th nh phố Thái Nguyên.

2. Miễn án phí h nh chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn V.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ