- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Phan Tú L và Nguyễn Văn t yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Công nH sự thỏa thuận của các đƣơng sự cụ thể nhƣ sau:
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ X DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 01/2020/DS-ST Ngày 15-01-2020 V/v tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ X DĨ AN, T NH B NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2019/TLST-DS ngày 27/3/2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 178/2019/QĐXXST-DS ngày 28/11/2019, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Tú L, sinh năm 1986; thƣờng trú: Số 42/26A2 Q, Phƣờng 10, quận G, Thành phố H; địa chỉ liên lạc: Số 05 đƣờng Th, khu phố Th 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B.
Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Trƣơng Thị L2, sinh năm 1964; thƣờng trú: Số 42/26A2 Q, Phƣờng 10, quận G, Thành phố H; là ngƣời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/01/2020). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959; thƣờng trú: Số 217/21/8/3 đƣờng số 11, khu phố 4, phƣờng L, quận Th, Thành phố H. Địa chỉ: Số 05 đƣờng Th, khu phố Th 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 217/21/8/3 đƣờng số 11, khu phố 4, phƣờng L, quận Th, Thành phố H. Có mặt.
2/ Bà Trƣơng Thị L2, sinh năm 1964; thƣờng trú: Số 42/26A2 Q, Phƣờng 10, quận G, Thành phố H; chỗ ở: Số 05 đƣờng Th, khu phố Th 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.
3/ Ông Trần An, sinh năm 1978; thƣờng trú: 42/26A2 Q, Phƣờng 10, quận G, Thành phố H. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ngƣời làm chứng:
1. Ông Đặng Vĩnh C2, sinh năm 1972; địa chỉ: Hẻm Thạnh Lộc 16, phƣờng Th, Quận 12, Thành phố H. Có mặt.
2. Ông Khƣu Quốc H2, sinh năm 1988; địa chỉ: 1779/1C khu phố 4, phƣờng A, Quận 12, Thành phố H. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 19, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
4. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; thƣờng trú: Số 217/21/8/3 đƣờng số 11, khu phố 4, phƣờng L, quận Th, Thành phố H; chỗ ở: Số 03 đƣờng Th, khu phố Th 1, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/3/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trương Thị L2 trình bày: Năm 2007 bà L nH chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất tại Số 05 đƣờng Th, khu phố Th, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B và đƣợc cập nhật biến động sang tên theo giấy chứng nH quyền sử dụng đất số 1474 QSD Đ/HTH-DA vào ngày 12/01/2008. Đến năm 2011, bà L xây dựng căn nhà trên toàn bộ diện tích đất. Khi xây dựng có làm thủ tục để xin cơ quan nhà nƣớc cấp giấy phép xây dựng theo quy định. Căn nhà bà L xây dựng có 02 hầm chứa nƣớc thải, một hầm nằm trong phòng vệ sinh trong nhà và 01 hầm ở phía trƣớc sân hầm này ở vị trí xảy ra đang tranh chấp). Khoảng năm 2018 bà L cho có làm thêm 01 hầm chứa nƣớc thải gần cổng nhà để ngƣời thuê chứa nƣớc thải kinh doanh. Hầm trong nhà vệ sinh và hầm ở vị trí đang tranh chấp đều có 03 hố, trong đó có 01 hố có đổ đáy và 02 hố không có đáy vì lúc đó khu vực bà L ở chƣa có đƣờng thoát nƣớc nên để 02 hố không đáy cho nƣớc thấm vào đất, hầm có đổ đáy thì khi nào đầy sẽ hút; hầm nƣớc thải xây dựng năm 2018 có 02 hố bằng hình tròn, không đổ đáy. Tại vị trí xảy ra hành vi tranh chấp, hầm nƣớc thải của bà L cách tƣờng ranh nhà ông T khoảng 30cm, bà L có làm 01 hố chờ của hầm giáp với tƣờng nhà để dẫn nƣớc vào hầm chứa. Ngày 13/11/2018, căn nhà của bà xảy ra hiện tƣợng có nƣớc thải dƣới hầm chứa nƣớc thải tràn lên nền nhà, thấm lên tƣờng gây ô nhiệm môi trƣờng sống của gia đình. Nguyên đơn đã xử lý bằng cách thuê ngƣời đến hút hầm cầu nhƣng sau khi hút cạn hai lần trong một thời gian ngắn nhƣng nƣớc trong hầm lại đầy trở lại. Sau khi hút cạn nƣớc thêm một lần nữa, nguyên đơn đã nhờ ngƣời mở nắp hầm chứa để kiểm tra thì phát hiện ra sự việc vách hố chờ cạnh giáp hầm chứa của bị đơn có vết nứt và có nƣớc từ bên ngoài chảy vào hố chờ qua vết nứt này. Sự việc đó có bà L2, ông Đặng Vĩnh C2, ông Khƣu Quốc H2, ông M chứng kiến. Ông C là con trai của ông T cũng qua chứng kiến sự việc để tìm phƣơng án giải quyết nhƣng không có kết quả.
Trong đơn khởi kiện bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T chấm dứt hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng thoát nƣớc thải qua nhà của bà L và buộc ông Nguyễn Văn T khắc phục hậu quả gây ra làm thấm tƣờng, ngập hầm cầu gây hƣ hại nặng nề cho gia đình chị L và bồi thƣờng thiệt hại.
Nhƣng tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn xin rút yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T khắc phục hậu quả gây ra làm thấm tƣờng, ngập hầm cầu gây hƣ hại nặng nề cho gia đình chị L và bồi thƣờng thiệt hại, cụ thể:
+ Tiền mặt bằng cho thuê tạm tính cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm là 36.000.000 đồng.
+ Tiền xây lại bức tƣờng do bị ngấm nƣớc gây mục tƣờng (chiều dài 15m, chiều cao 03m) tạm tính là 20.000.000 đồng.
+ Tiền làm lại nền nhà lót gạch ốp tƣờng, nền mặt bằng diện tích 50m2 tạm tính là 20.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền là 76.000.000 đồng.
Theo đó, nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T chấm dứt hành vi gây ô nhiễm môi thoát nƣớc thải qua nhà bà L để không làm ẩm ƣớt tƣờng và tràn nƣớc thải lên nền nhà.
Tại phiên tòa bị đơn đƣa ra phƣơng án để các đƣơng sự thỏa thuận với nhau, cụ thể: Nguyên đơn và bị đơn tự khắc phục, sửa chữa hầm chứa nƣớc thải của mình để chấm dứt hiện tƣợng có nƣớc thải tràn lên nền nhà của nguyên đơn gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống. Phƣơng án thực hiện: Nguyên đơn và bị đơn tự liên hệ làm thủ tục với Công ty cổ phần Nƣớc – Môi trƣờng Bình Dƣơng - Chi nhánh nƣớc thải Dĩ An để đƣợc đấu nối vào hệ thống thu gom xử lý nƣớc thải. Nếu bị đơn đồng ý thì nguyên đơn đồng ý thực hiện.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông T nH chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất tại số 03 đƣờng Th, khu phố Th, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B, là thửa đất liền kề với bà Phan Tú L. Năm 2016 ông xây dựng căn nhà trên đất, việc xây dựng có xin giấy phép, có bản vẽ thiết kế theo quy định của pháp luật. Quá trình sử dụng căn nhà cho đến trƣớc khi nguyên đơn tranh chấp về việc chấm dứt hành vi trái pháp luật thì giữa nguyên đơn và bị đơn không xảy ra tranh chấp gì. Đến cuối năm 2018 bà L cho rằng nƣớc thải tràn lên nền nhà bà là do nƣớc từ hầm nƣớc thải của ông chảy qua. Ông không đồng ý vì: Việc ông xây dựng có xin cấp giấy phép, có bản vẽ thiết kế theo quy định. Quá trình xây dựng và sử dụng căn nhà của ông không xảy ra vấn đề gì cho đến cuối năm 2018 bà L khởi kiện.
Tại phiên tòa ông đƣa ra phƣơng án để các đƣơng sự thỏa thuận với nhau, cụ thể: Nguyên đơn và bị đơn tự khắc phục, sửa chữa hầm chứa nƣớc thải của mình để chấm dứt hiện tƣợng có nƣớc thải tràn lên nền nhà của nguyên đơn gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống. Phƣơng án thực hiện: Nguyên đơn và bị đơn tự liên hệ làm thủ tục với Công ty cổ phần Nƣớc – Môi trƣờng Bình Dƣơng - Chi nhánh nƣớc thải Dĩ An để đƣợc đấu nối vào hệ thống thu gom xử lý nƣớc thải. Nếu nguyên đơn đồng ý thì ông đồng ý thực hiện.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không đồng ý vì vợ chồng bà xây dựng nhà trên đất của mình, khi xây dựng có xin giấy phép và thiết kế thi công theo đúng quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận đƣợc phƣơng án khắc phục, sửa chữa thì bà đồng ý thực hiện, không có ý kiến gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần A vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án ông có lời khai: Ông Thống nhất với lời khai của nguyên đơn. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông đề nghị Tòa án chấp nH.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị L2 có lời khai: Bà thống nhất với lời khai của nguyên đơn. Với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà đồng ý phƣơng án mà nguyên đơn và bị đơn đƣa ra.
Quá trình giải quyết vụ án ông Đặng Vĩnh C2 trình bày: Ngày 13/11/2018, ông là ngƣời đƣợc nguyên đơn thuê đến kiểm tra để sửa chữa hầm nƣớc thải. Là ngƣời trực tiếp nảy nắp hầm nƣớc thải lên, khi mở nắp ra thì thấy nƣớc ở trong hầm còn đầy tràn lên bề mặt. Sau khi hút cạn nƣớc trong hầm thì ông nhìn thấy tại vết nứt trong hố chờ cạnh giáp nhà ông T có nƣớc chảy vào hố chờ nguyên đơn. Sự việc có ông, ông M, ông H2 và bà L2 có gọi ông C sang chứng kiến.
Quá trình giải quyết vụ án ông Khưu Quốc H2 trình bày: Khoảng cuối năm 2017 ông là ngƣời đƣợc nguyên đơn thuê sữa chữa, ốp gạch vào tƣờng. Trƣớc khi đƣợc ốp gạch bức tƣờng cạnh giáp nhà bị đơn bị thấm nƣớc, bong tróc, rêu mốc. Cuối năm 2018, ông đƣợc nguyên đơn thuê đến nhà số 05 đƣờng Thắng Lợi, khu phố Thắng Lợi 1 để sữa chữa hầm nƣớc thải, khi mở nắp ra thì thấy nƣớc ở trong hầm còn đầy tràn lên bề mặt. Sau khi hút cạn nƣớc trong hầm thì ông nhìn thấy tại vết nứt trong hố chờ cạnh giáp nhà ông T có nƣớc chảy vào hố chờ nguyên đơn. Sự việc có ông, ông M, ông C2 và bà L2 có gọi ông C sang chứng kiến.
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn M trình bày: Khoảng tháng 11/2018 ông đƣợc nguyên đơn thuê đến hút nƣớc từ hầm nƣớc thải tại số nhà 05 đƣờng Thắng Lợi, khu phố Thắng Lợi 1. Ông đƣợc thuê đến hút 03 lần. Sau khi hầm nƣớc thải đã đƣợc mở nắp và hút cạn thì ông nhìn thấy tại vết nứt trong hố chờ cạnh giáp nhà ông T có nƣớc chảy vào hố chờ nguyên đơn. Sự việc này bà L2 có gọi ông C sang chứng kiến.
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông là con ruột của ông T và bà H hiện đang sinh sống tại số nhà 03 đƣờng Thắng Lợi, khu phố Thắng Lợi 1 để giúp ba mẹ quản lý nhà trọ. Khoảng tháng 11/2018 nhà nguyên đơn có nƣớc thải tràn lên nền nhà. Ngày bà L2 là mẹ của nguyên đơn thuê ngƣời đến mở nắp hầm cầu và hút nƣớc thải, bà L2 có gọi ông qua chứng kiến sự việc. Tuy nhiên, giữa ông và bà L2 không có bất kỳ thƣơng lƣợng hay thỏa thuận nào. Nguyên nhân có nƣớc thải tràn lền nền nhà bà L và chảy ra đƣờng gây ô nhiễm môi trƣờng không phải do nƣớc thải bên hầm nhà bị đơn chảy qua. Có nhiều nguyên nhân làm cho nƣớc thải tràn lên nhà bà L nhƣng tuyệt đối không phải do nguồn nƣớc từ nhà bị đơn chảy qua. Lời khai của những ngƣời làm chứng trong vụ án là không đúng sự thật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và đƣơng sự chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ngƣời làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhƣng đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy căn cứ Điều 227, 228, 229, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định. Về nội dung: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đã tự thỏa thuận đƣợc với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án; quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại, tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu này nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nH.
NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định:
[1] Về tố tụng: Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần A và những ngƣời làm chứng ông Khƣu Quốc H2 và ông Nguyễn Văn M đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 229, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều xác định, để chấm dứt hiện tƣợng có nƣớc thải tràn lên nền nhà gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống của nguyên đơn thì cả nguyên đơn và bị đơn đều phải sửa chữa hầm chứa nƣớc thải của mình. Đồng thời nguyên đơn và bị đơn đều đƣa ra phƣơng án để tự thỏa thuận với nhau, cụ thể: Nguyên đơn và bị đơn tự khắc phục, sửa chữa hầm chứa nƣớc thải của mình để chấm dứt hiện tƣợng có nƣớc thải tràn lên nền nhà của nguyên đơn gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống. Phƣơng án thực hiện: Nguyên đơn và bị đơn tự liên hệ làm thủ tục với Công ty cổ phần Nƣớc – Môi trƣờng Bình Dƣơng - Chi nhánh nƣớc thải Dĩ An để đƣợc đấu nối vào hệ thống thu gom xử lý nƣớc thải.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đƣơng sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nH.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu này.
[3] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí đã nộp.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T là ngƣời cao tuổi đƣợc miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 229, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 251 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Công nH sự thỏa thuận của các đƣơng sự cụ thể nhƣ sau:
- Bà Phan Tú L và ông Nguyễn Văn T tự khắc phục, sửa chữa hầm chứa nƣớc thải của mình tại số 03 và số 05 đƣờng Th, khu phố Th, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B để chấm dứt hiện tƣợng nƣớc thải tràn lên nền nhà của bà Phan Tú L gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống.
- Phƣơng án thực hiện: Bà Phan Tú L và ông Nguyễn Văn T tự liên hệ làm thủ tục với Công ty cổ phần Nƣớc – Môi trƣờng Bình Dƣơng - Chi nhánh nƣớc thải Dĩ An để đƣợc đấu nối vào hệ thống thu gom xử lý nƣớc thải.
2. Đình chỉ yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng của bà Phan Tú L đối với ông Nguyễn Văn T.
3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí đã nộp.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Phan Tú L tự nguyện chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Trả lại cho bà Phan Tú L số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 1.900.000 (một triệu chín trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0028284 ngày 27/3/2019 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An.
5. Đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nH đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nH:
| - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND TX Dĩ An; - Chi cục THADS TX Dĩ An; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT; HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Vân |