- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị D với ông Vũ Ngọc H1"
- Tòa quyết gì? Công nhận toàn ộ diện tích 655m2 đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06, tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định đã đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên ông Vũ Đình L (Vũ Ngọc L) có nguồn gốc của cụ Vũ Bá C và cụ Vũ Thị T5 là tài sản của ông Vũ Ngọc T7 (Vũ Hải T6) đ ợc quy…
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Đất đai; Điều 107 Luật Đất đai; Điều 119 Bộ luật dân s
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/DS-PT Ngày 13-01-2020 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn T6
Cá Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Quỳnh - Th ký Tòa án nhân dân t nh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân t nh Nam Định xét xử ph c th m công khai vụ án thụ lý số 60/2019/TLPT-DS ngày 16-12-2019 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do ản án dân s s th m số 04/2019/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, t nh Nam Định ị kháng cáo.
T5 Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2020 gi a các đ ng s :
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, Sinh năm 1947; Địa ch : Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh N.
- Bị đơn: Ông Vũ Ngọc H1, Sinh năm 1947; Địa ch : Số nhà 126/40, ngõ 20, đ ờng P, ph ờng C, quận B, thành phố H.
- Người ó quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị L, Sinh năm 1971; Địa ch : Xóm T, xã Y, huyện Y, t nh N.
2. Anh Vũ Toàn T1, Sinh năm 1975
3. Chị Vũ Thị Vân K, Sinh năm 1986
Cùng địa ch : Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định.
- Đại diện T5 ủy quyền ủa hị L, anh T1, hị K: Bà Trần Thị D, Sinh năm 1947; Địa ch : Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định.
- Người làm h ng:
1. Ông Vũ Ngọc T2, Sinh năm 1959; Địa ch : Số nhà 4/1 L, xã L, L, t nh B
2. Bà Vũ Thị G, Sinh năm 1915
3. Ông Trần Văn Q, Sinh năm 1962
Cùng địa ch : Xóm T, xã Y, huyện Y, t nh N.
4. Bà Vũ Thị B, Sinh năm 1954
5. Bà Vũ Thị T3, Sinh năm 1964
Cùng địa ch : Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định.
6. Ông Vũ Ngọc T4, Sinh năm 1941
Địa ch : Số nhà 24/2 A, xã A, huyện A, thành phố H
Tại phiên toà ph c th m: Bà D, ông H1, ông Q, bà B, bà T3 có mặt; chị L, anh T1, chị K, ông T2 xin vắng mặt, à G, ông T4 vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đ n khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2018, ản t khai ngày 26 tháng 12 năm 2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đ n là à Trần Thị D trình bày:
Cụ Vũ Bá C và cụ Vũ Thị T5 sinh đ ợc 4 ng ời con là bà Vũ Thị G (tên gọi khác là Vũ Thị S), ông Vũ Đình L (tên gọi khác là Vũ Ngọc L), ông Vũ Ngọc T4 và ông Vũ Hải T6 (tên gọi khác là Vũ Ngọc T7). Bà D là vợ của ông T6. Cụ C, cụ T5 chết không để lại di chúchúc. Sau khi hai cụ chết, các anh em thống nhất giao cho ông L đứng tên các tài sản ố mẹ để lại gồm nhà, đất, v ờn, ao ở xóm B, xã Y. Gia đình ông L (vợ là à Vũ Thị C2) tr c tiếp sống trên nhà đất này, trông coi, quản lý tài sản này. Năm 1992, nhà n ớc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng toàn ộ diện tích đất ở, đất ao do ố mẹ để lại gồm đất ao 890m2, đất ở 300m2, đất v ờn 435m2 đứng tên ông Vũ Đình L, bà C2 chết năm 2002.
Ngày 07-7-2004, anh em trong gia đình họp àn thống nhất phân chia tài sản của cụ C và cụ T5 để lại. Ông L lập ản di chúc chuyển quyền thừa kế tài sản cho ba anh em trai là ông L, ông T4 và ông T6. Bà G là con g đã đi lấy chồng nên không nhận thừa kế.
Trong ản di chúc này, ông L giao cho ông T6 đ ợc quyền sử dụng đất ao diện tích 655m2 tại thửa 626, tờ ản đồ số 6. Giao cho ông T4 đ ợc quyền sử dụng 140m2 đất v ờn trong tổng số 435m2 đất v ờn tại thửa 645, tờ ản đồ số 6. Còn lại là phần của ông L gồm 235m2 đất ao ở thửa 627, tờ ản đồ số 6; 300m2 đất ở, 295m2 đất v ờn cùng thửa 645, tờ ản đồ số 6. Số tài sản phần ông L đ ợc thừa kế cùng với 743m2 đất ruộng của riêng gia đình ông L và 02 cụm tre ông L cũng thừa kế luôn cho 4 ng ời con của vợ chồng ông L, bà C2 gồm ông Vũ Ngọc H1, à Vũ Thị B, ông Vũ Ngọc T2, à Vũ Thị T3. Bản di chúc này có ch ký của ông L, các con ông L, ông T6 (T7), Tr ởng thôn, có xác nhận của UBND xã Y.
Sau khi anh em thỏa thuận phân chia tài sản xong, gia đình à D và gia đình ông T4 đã sử dụng. Ông T4 đã làm thủ tục tách sổ đỏ đối với diện tích đất đ ợc chia thừa kế. Gia đình ông T6 vẫn sử dụng diện tích ao từ khi đ ợc chia đến nay (thả cá), cải tạo ao, xây t ờng ao xung quanh. Gi a các ên không xảy ra tranh chấp gì nh ng gia đình ông T6 ch a làm thủ tục tách sổ đỏ. Năm 2005 ông L chết, năm 2009 ông T6 chết.
Năm 2017, à D đề nghị UBND xã Y tách sổ đỏ đối với diện tích ao mà ông T6 đ ợc thừa kế thì UBND xã Y giải thích là phải có sổ đỏ gốc mới làm đ ợc thủ tục tách. Bà D gặp ông Vũ Ngọc H1 để m ợn sổ đỏ gốc thì ông H1 không cho m ợn, không đồng ý tách sổ đỏ cho à D. Ông H1 cho rằng ông T6 chết không để lại di chúc cho ai thừa kế tài sản thì tài sản trả về cho các con ông L. Bà D và ông T6 có 03 ng ời con là chị Vũ Thị L, anh Vũ Toàn T1, chị Vũ Thị Vân K. Bà D làm đ n đề nghị giải quyết vụ việc tranh chấp đất với ông H1 tại UBND xã Ynh ng ông H1 không hợp tác, xin vắng mặt. Nay à D đ ợc s ủy quyền của các con nên khởi kiện yêu cầu ông Vũ Ngọc H1 phải trả lại gia đình à diện tích đất ao mà ông T6 đã đ ợc thừa kế gồm 655m2 thửa 626, tờ ản đồ số 6 tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh N.
* Tại ản t khai và quá trình tố tụng ị đ n là ông Vũ Ngọc H1 trình bày: Ông xác nhận bản di chúc ngày 07-7-2004 về việc các ông L, ông T4, ông T6 phân chia tài sản gồm đất, v ờn, ao đ ng nh à D trình bày. Ông H1 cung cấp cho Tòa án bản di chúc có hình thức, nội dung hoàn toàn trùng khớp với bản di chúc mà bà D cung cấp.
Ông H1 công nhận, sau khi lập di chúc, ông T4 đã tách sổ đỏ đối với phần diện tích đất mà ông T4 đ ợc h ởng và đã chuyển nh ợng lại diện tích đất này cho ng ời khác. Đối với diện tích đất ao 655m2 thửa 626, tờ ản đồ số 6 tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định mà ông T6 đ ợc thừa kế, gia đình ông T6, bà D vẫn sử dụng từ đó đến nay, đã đ ợc gia đình ông T6 cải tạo, xây t ờng ao quanh ao, không xảy ra tranh chấp.
Ông H1 không đồng ý tách sổ đỏ cho à D và không nhất trí cho à đ ợc quyền sử dụng diện tích đất ao. Vì T5 ông, trong Bản di chúc ngày 07-7-2004 ch thể hiện thừa kế 655m2 đất ao cho riêng ông T6 chứ không thừa kế cho "gia đình" ông T6. Do vậy, khi ông T6 chết thì mẹ con à D không có quyền thừa kế tài sản này. Ông L đã chết thì quyền định đoạt tài sản này thuộc về các con của ông L, 655m2 đất ao phải trả lại cho các con ông L. Bà B, bà T3, ông T2 đã giao lại quyền giải quyết tài sản này cho ông H1 nên ông có quyền đứng ra giải quyết s việc.
Ông H1 cung cấp cho Tòa án một Đ n xin điều ch nh thổ ao do ông L viết đề ngày 09-8-2005. T5 ông H1, Đ n xin điều ch nh thổ ao này ông L viết tr ớc khi ông L chết (ông L chết ngày 13-8-2005) nên Đ n xin điều ch nh thổ ao này đ ợc coi nh bản di chúc thứ 2 của ông L đã có hiệu l c, thay thế cho bản di chúc ngày 07-7-2004. Ông H1 đề nghị Tòa án giải quyết T5 nội dung Đ n xin điều ch nh thổ ao, chia cho ông T6 đ ợc sử dụng 1/5 diện tích ao 655m2 : 5 = 131m2. Nếu Tòa án không chấp nhận Đ n xin điều ch nh thổ ao của ông L nh một ản di chúc thì ông H1 đề nghị Tòa án coi nh ông L, bà C2 không để lại di chúc, 655m2 ao là tài sản của ông L, giải quyết T5 pháp luật thừa kế.
* Người làm h ng: Ông Vũ Ngọc T2 trình ày: Nguồn gốc đất mà ông L đứng tên trong giấy CNQSD là của cụ C, cụ T5. Ông L là ng ời tiếp tục sử dụng sau khi hai cụ chết. Việc ông L lập di chúc về việc phân chia tài sản nh thế nào ông T2 không iết, không chứng kiến. Nay à D, ông H1 tranh chấp đất ao diện tích 655m2 ở xóm Bến, xã Yên Trị, ông T2 có quan điểm ông không liên quan, không quan tâm đòi hỏi quyền lợi, không tranh chấp tài sản này, đề nghị Tòa án không triệu tập ông tham gia tố tụng trong vụ án.
* Người làm h ng: Bà Vũ Thị B trình ày: Về nguồn gốc tài sản phù hợp với lời khai của ông H1. Bà xác nhận bản di chúc ngày 07-7-2004 của ông L là đ ng s thật. Ngày 09-8-2005, ông L đã lập một ản di chúc khác, Bản di chúc này có ch ký của à và ông H1. T5 à, từ tr ớc đến nay gia đình à D vẫn sử dụng diện tích ao này, cải tạo và kè t ờng ao xung quanh, không ai tranh chấp. Ông H1 cũng không tranh chấp mà ch không đồng ý tách sổ đỏ cho à D vì sợ à D bán ao cho ng ời khác. Ao này là của cha ông để lại, à đề nghị giải quyết T5 Bản di chúc thứ hai. Bà không tranh chấp quyền lợi về tài sản và từ chối tham gia tố tụng.
* Người làm h ng: Ông Vũ Ngọc T4, ông Trần Văn Q có đ n trình ày phù hợp với lời khai của nguyên đ n.
* Qua xem xét th m định tại hồ s địa chính xã Ythì toàn ộ diện tích đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06 (T5 ản đồ 1991) ở Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định có nguồn gốc của cụ Vũ Bá C và cụ Vũ Thị T5. Cụ C, cụ T5 chết không để lại di chúc. Ông L là con trai tr ởng, sống tại nhà đất của hai cụ, quản lý tài sản của ố mẹ nên khi lập lại ản đồ địa chính năm 1989, 1991, ông L đã đứng tên kê khai toàn ộ diện tích đất của cụ C, cụ T5 gồm đất ao 890m2 (trong đó 655m2 thuộc thửa 626 và 235m2 thuộc thửa 627), 300m2 đất thổ, 435m2 đất v ờn và đ ợc Nhà n ớc cấp Giấy CNQSD đất mang tên Vũ Đình L.
Ngày 07-7-2004, ông L đã lập di chúc phân chia cho hai em trai là ông T4 đ ợc quyền sử dụng 140m2 đất v ờn tại thửa 645 tờ ản đồ số 6; ông T6 (T7) đ ợc quyền sử dụng đất ao 655m2 tại thửa 626 tờ ản đồ số 06. Di chúc này có chứng th c của UBND xã Yên Trị.
Năm 2007, ông T4 làm thủ tục tách Giấy CNQSD 132m2 đất v ờn tại thửa 645 tờ ản đồ số 6, để lại 8m2 làm ngõ đi, sau đó ông T4 đã chuyển nh ợng phần đất của ông cho ng ời khác.
Qua xem xét th m định tại chỗ cho thấy thửa đất 626 tờ ản đồ số 06 có tổng diện tích th c tế là 655m2 tọa lạc tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định có tứ cận nh sau: Phía Đông giáp ao ông L (thửa 627) dài 10 m; Phía Tây giáp đ ờng 14m + 1,5m (gấp kh c) + giáp đất nhà ông Cảnh 9m; Phía Nam giáp đ ờng dài 27m; Phía Bắc giáp ao nhà ông San (Xem) dài 30,5m (thửa 625). Gia đình à D đã xây t ờng kè xung quanh ao từ sau khi đ ợc chia thừa kế và sử dụng từ đó đến nay.
Hội đồng định giá tài sản đã định giá đối với đất ao 655m2 có giá là 75.000 đồng/m2 = 49.125.000 đồng; Bờ kè xung quanh ao có giá là 9.000.000 đồng.
Tại ản án dân s s th m số 04/2019/DS-ST ngày 09 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, t nh Nam Định. Căn cứ các Điều 26, 147 Bộ luật tố tụng dân s năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các Điều 46, 47, 105, 107, 136 Luật đất đai 2003; các Điều 119, 201, 202, 203 Bộ luật dân s năm 1995; Điều 14 Nghị định 79/2001/NĐ-CP ngày 01-11-2001; các Điều 166, 674, 675, 676 Bộ luật dân s 2005.
Công nhận toàn ộ diện tích đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06, diện tích 655m2 tọa lạc tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định đã đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên ông Vũ Đình L (Vũ Ngọc L) có nguồn gốc của cụ Vũ Bá C và cụ Vũ Thị T5 là tài sản của ông Vũ Ngọc T7 (Vũ Hải T6) đ ợc quyền sử dụng T5 Bản di chúc ngày 07-7-2004 của ông Vũ Ngọc L.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Trần Thị D đối với ông Vũ Ngọc H1 về việc đòi QSD 655m2 đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06, diện tích 655m2 tọa lạc tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định.
Bà Trần Thị D đ ợc quyền sử dụng 655m2 đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06 tọa lạc tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định có tứ cận nh sau: Phía Đông giáp ao ông L (thửa 627) dài 10 m; Phía Tây giáp đ ờng 14m + 1,5m (gấp kh c) + giáp đất nhà ông Cảnh 9m; Phía Nam giáp đ ờng dài 27m; Phía Bắc giáp ao nhà ông San (Xem) dài 30,5m (thửa 625).
Ngoài ra, án s th m còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đ ng s .
Ngày 28-10-2019 ông Vũ Ngọc H1 là ị đ n trong vụ án có đ n kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp ph c th m xem xét lại vụ án đảm ảo quyền lợi của một công dân, xem xét các tình tiết của vụ án để kết luận rõ ràng. Ông H1 không yêu cầu Tòa án cấp ph c th m xét xử lại vụ án vì mất thời gian.
Tại phiên toà ph c th m: Nguyên đ n gi nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận lý do kháng cáo của ông H1, đề nghị cấp ph c th m giải quyết gi nguyên nh ản án s th m. Ông Vũ Ngọc H1 vẫn gi nguyên quan điểm nh đã trình ày tại cấp s th m và đ n kháng cáo, ngoài ra ông H1 còn đề nghị tr ng cầu giám định ch ký và ch viết của ố ông trong Đ n xin điều ch nh thổ ao do ông L viết đề ngày 09-8-2005.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Nam Định tham gia phiên tòa phát iểu ý kiến:
Về tố tụng: Th m phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và th ký phiên tòa đã th c hiện đ ng các quy định của Bộ luật tố tụng dân s . Trong quá trình giải quyết vụ án cũng nh tại phiên tòa ph c th m, nh ng ng ời tham gia tố tụng chấp hành đ ng các quy định của Bộ luật tố tụng dân s , quyền lợi của các đ ng s đ ợc ảo đảm. Ông H1 đề nghị tr ng cầu giám định ch ký và ch viết của ông L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết T5 quy định của pháp luật.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS đề nghị gi nguyên ản án s th m, xác định à Trần Thị D khởi kiện ông Vũ Ngọc H1 tranh chấp quyền sử dụng đất ao diện tích 655m2 tại thửa 626, tờ ản đồ số 6 ở Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định là có đủ c sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của bà D. Kháng cáo của ông H1 là không có c sở chấp nhận. Về án phí đề nghị giải quyết T5 quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án đ ợc xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét kháng cáo của ông Vũ Ngọc H1:
Về tố tụng: Chị Vũ Thị L, anh Vũ Toàn T1, chị Vũ Thị Vân K đã ủy quyền cho à Trần Thị D tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của nh ng ng ời này không ảnh h ởng đến việc xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân s , Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về quan hệ pháp luật: Bà Trần Thị D khởi kiện yêu cầu ông Vũ Ngọc H1 tranh chấp quyền sử dụng đất ao diện tích 655m2 tại thửa 626, tờ ản đồ số 6 ở Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định. Vì vậy quan hệ pháp luật đ ợc xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nh cấp s th m đã xác định là đúng.
Xét kháng cáo của ông Vũ Ngọc H1 thì thấy: Nguồn gốc diện tích 655m2 đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06 (T5 ản đồ 1991) ở Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định là của cụ Vũ Bá C và cụ Vũ Thị T5. cụ C, cụ T5 chết không để lại di chúc. Ông T4, ông T7 đi công tác xa, ông L là con trai tr ởng, sống tại đất của ố mẹ nên sau khi ố mẹ chết đã quản lý tài sản đất, v ờn, ao của ố mẹ. Vấn đề này đã đ ợc nguyên đ n, ị đ n, ng ời làm chứng và địa ph ng xác nhận nên T5 quy định tại Điều 92 BLTTDS đây là tình tiết không phải chứng minh. Khi Nhà n ớc lập lại ản đồ địa chính năm 1989, 1991, ông L đứng tên kê khai toàn ộ diện tích đất của cụ C, cụ T5 gồm đất ao diện tích 890m2 (trong đó 655m2 thuộc thửa 626 và 235m2 thuộc thửa 627 cùng tờ ản đồ số 6), 300m2 đất ở, 435m2 đất v ờn và đ ợc Nhà n ớc cấp Giấy CNQSD đất mang tên Vũ Đình L. Ngày 07-7-2004, ông L chủ động lập di chúc phân chia tài sản cho hai em trai. Cụ thể, ông Vũ Ngọc T4 đ ợc quyền sử dụng 140m2 đất v ờn tại thửa 645 tờ ản đồ số 6; ông Vũ Ngọc T7 (Vũ Hải T6) đ ợc quyền sử dụng đất ao diện tích 655m2 tại thửa 626 tờ ản đồ số 06. Di chúc này đ ợc UBND xã chứng th c T5 quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, ị đ n xác nhận di chúc này là có thật và cũng giao nộp cho Tòa án một ản phù hợp với ản di chúc mà nguyên đ n giao nộp. Đến nay hai ên d ng s đều xác nhận, đã th c hiện đ ng nh ản di chúc, ông T4, ông T7 (T6) tr c tiếp sử dụng phần tài sản của mình, không xảy ra tranh chấp gì. Năm 2007, ông T4 làm thủ tục tách Giấy CNQSD 132m2 đất v ờn tại thửa 645 tờ ản đồ số 6, để lại 8m2 làm ngõ đi, sau đó ông T4 đã chuyển nh ợng phần đất của ông cho ng ời khác. Gia đình ông T7 (T6) đã kè ao quanh 655m2 đất ao để chăn nuôi, thả cá. Năm 2009 Ông T7 chết không để lại di chúc. Căn cứ T5 quy định tại Điều 676 BLDS 2005 thì bà D, chị L, anh T1, chị K là nh ng ng ời thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T7 đ ợc thừa kế T5 pháp luật đối với nh ng tài sản của ông T7. Sau khi ông T7 chết, à D cùng các của con ông à vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất ao này. Do ông H1 không đ a giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L, cho mẹ con bà D làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất nên à khởi kiện để đòi quyền sử dụng đối với diện tích ao này.
Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 không nhất trí cho mẹ con bà D đ ợc quyền sử dụng diện tích ao. Ông H1 giao nộp cho Tòa án một Đ n xin điều ch nh thổ ao do ông L viết đề ngày 09-8-2005. Trong bản t khai, tr ớc khi mở phiên tòa ph c th m ngày 08-01-2010 ông H1 có đ n yêu cầu Tòa án giám định ch ký, ch viết của ông L trong văn ản này gửi qua u chính. Tại phiên tòa hôm nay ông H1 vẫn gi nguyên yêu cầu này. Xét đ n đề nghị tr ng cầu giám định của ông H1 là không có căn cứ chấp nhận, ởi lẽ nếu giám định đ ng là ch viết và ch ký của ông L trong Đ n xin điều ch nh thổ ao đề ngày 09-8-2005 thì cũng không có căn cứ làm thay đổi ản chất nội dung của vụ án. Ông H1 cho rằng đ n xin điều ch nh thổ ao ông L viết tr ớc khi ông L chết (ông L chết ngày 13-8-2005) nên đ n xin điều ch nh thổ ao này đ ợc coi nh bản di chúc thứ 2 của ông L đã có hiệu l c, thay thế cho bản di chúc ngày 07-7-2004. Ông H1 đề nghị Tòa án giải quyết T5 nội dung đ n xin điều ch nh thổ ao là không có c sở chấp nhận ởi lẽ: Căn cứ vào bản di chúc ngày 07-7-2004 cho thấy, ông L là ng ời rất c n thận. Khi lập di chúc này, ông L yêu cầu nh ng ng ời đ ợc chia tài sản thừa kế phải ký vào văn ản này trong đó có cả ch ký làm chứng của ông H1, có chứng th c của c quan có th m quyền. Nếu ngày 09-8-2005, ông L lập lại Bản di chúc khác (Đ n điều ch nh thổ ao) để thay thế cho bản di chúc tr ớc mà lại không mời nh ng ng ời liên quan nh ông T4, ông T6 đến để chứng kiến, trong khi nhà ông T6 ở liền kề nhà ông L, văn ản này không có chứng th c, không ghi ngày, tháng, năm là không phù hợp. Ông H1 thừa nhận, ông đã t ghi thêm ch "09-8-2005" vào phía sau ch "ngày" trong đ n điều ch nh thổ ao và gọi à B ký tên vào đó. H n n a, trong đ n điều ch nh thổ ao, ở phần kính gửi, ông L viết: Kính gửi Ban địa chính HTX Tây Tiến, Ban quản lý HTX Tây Tiến. Điều này thể hiện về thời gian ông L viết văn ản này diễn ra tr ớc ngày 09-8-2005, tr ớc cả thời điểm ông L lập văn ản ngày 07-7-2004. Bởi vì, T5 tài liệu xác minh, thời điểm năm 2004 - 2005, Hợp tác xã Tây Tiến không còn tồn tại. Căn cứ vào Luật đất đai năm 1993, th c hiện khoán 10 năm 1994 thì Hợp tác xã đã àn giao toàn ộ việc quản lý đất đai về cho UBND xã quản lý, từ đó HTX không còn n a. Số tờ, số thửa, số diện tích đất ở, đất ao ghi trong đ n điều ch nh thổ ao cũng không phù hợp với th c tế. Từ năm 1991, ông L đã đứng tên đăng ký QSD đất ở, đất ao trong ản đồ địa chính xã Yđối với toàn ộ diện tích đất của cụ C, cụ T5, có số đo diện tích và số tờ, số thửa cụ thể nh trong giấy chứng nhận và trên trích lục ản đồ. Không thể có việc ông L viết đ ng số tờ, số thửa tại văn ản ngày 07-7-2004 mà lại viết sai hoàn toàn các thông tin này tại đ n điều ch nh thổ ao ngày 09-8-2005. Điều này cho thấy ông L đã viết đ n điều ch nh thổ ao tr ớc khi lập văn bản ngày 07-7-2004, viết từ khi còn tồn tại HTX Tây Tiến. Nh ng đó ch là ản nháp, ông L ch a điền ngày, tháng, năm không có ch ký của ông H1, bà B. Nh ng viết đ n xong, ông L không sử dụng. Sau khi ông L chết, ông H1 đã tìm thấy tờ đ n này và t viết thêm ch "09-8-2005" vào phía sau ch "ngày" trong đ n điều ch nh thổ ao và viết thêm phần d ới đ n đ a cho bà B cùng ông H1 ký tên vào đó. Mặt khác, ông H1 là ng ời quản lý Giấy CNQSD đất của ông L. Nếu ông H1 không nhất trí với văn ản ngày 07-7-2004 của ông L thì tại sao sau khi ông L chết, chính ông H1 là ng ời đầu tiên th c hiện văn ản này. Cụ thể, ngày 25-7-2007, trong ức th ông H1 gửi cho ông T4 cũng thể hiện rõ việc ông H1 công nhận toàn ộ tài sản của cha ông để lại, ông L lập văn ản ngày 07-7-2004 là để tránh thuế khi phân chia cho các em trai. Đồng thời, ông H1 cũng công nhận tính hợp pháp của văn ản này và ảo ông T4 về làm thủ tục tách sổ, sau đó ông H1 sẽ về cắt phần đất của ông T4 và ông T7 (T6). Cũng năm 2007, ông H1 đã cùng ông T4 hoàn tất thủ tục để ông T4 đ ợc cấp Giấy CNQSD đất đối với diện tích đất mà ông T4 đ ợc chia T5 văn ản. Nh vậy, ông H1 đã mặc nhiên công nhận tính hợp pháp của văn ản ngày 07-7-2004. Đ n điều ch nh thổ ao ngày 09-8-2005 mà ông H1 cung cấp không đ ợc coi là ản di chúc thứ hai hợp pháp thay thế cho văn ản ngày 07-7-2004 của ông L.
Đến nay ông H1 lập luận không đồng ý cho à D đ ợc quyền sử dụng 655m2 đất ao với lý do văn ản ngày 07-7-2004 ch thừa kế tài sản 655m2 đất ao cho riêng ông T6 chứ không thừa kế cho "gia đình" ông T6. Khi ông T6 chết cũng không để lại di chúc giao cho mẹ con à D đ ợc quyền thừa kế diện tích đất ao này thì mẹ con à D không có quyền sử dụng. T5 ông, quyền định đoạt tài sản này thuộc về các con của ông L, 655m2 đất ao phải trả lại cho các con ông L. Lập luận này của ông H1 không đ ợc chấp nhận. Bởi lẽ, nh đã phân tích ở trên, văn ản ngày 07-7-2004 của ông Vũ Ngọc L là hợp pháp, ng ời đ ợc thừa kế 655m2 đất ao là ông T6, ông T6 chết thì quyền thừa kế tài sản này thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T6 gồm bà D và chị L, anh T1, chị K, ản thân ông H1 và các em của ông ch là cháu của ông T6 (T7) ch có quyền h ởng di sản của ông L mà không đ ợc h ởng di sản của ông T6 (T7). Qua nh ng phân tích nêu trên đã có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à D, giao cho bà D, chị L, anh T1, chị K đ ợc quyền sử dụng toàn ộ diện tích đất ao 655m2 và ờ kè xung quanh ao, tổng giá trị tài sản là 58.125.000 đồng nh Tòa án cấp s th m đã nhận định là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Nguyện vọng của chị L, anh T1, chị K giao phần tài sản của mình đ ợc h ởng cho à Trần Thị D đ ợc toàn quyền sử dụng, định đoạt. Xét đề nghị của chị L, anh T1, chị K là hoàn toàn t nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật nên đ ợc chấp nhận.
Nh ng ng ời làm chứng cùng có lời khai xác nhận ngày 07-7-2004, ông L đã lập di chúc phân chia tài sản của ố mẹ để lại cho nh ng ng ời đ ợc h ởng phù hợp nội dung văn ản ngày 07-7-2004 mà nguyên đ n, ị đ n cung cấp. Ông T4 đã làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đối với diện tích đất mà mình đ ợc h ởng. Qua xem xét th m định tại hồ s địa chính xã Yvà xem xét th m định tại chỗ cho thấy thửa đất 626 tờ ản đồ số 06 có tổng diện tích th c tế là 655m2 đất ao tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định có số đo th c tế và số đo trên ản đồ địa chính không có gì iến động. Gia đình à D đã xây t ờng kè xung quanh ao từ sau khi đ ợc chia đất và sử dụng từ đó đến nay.
Qua nh ng phân tích nêu trên đã cho thấy nh ng kết luận trong ản án s th m là hoàn toàn phù hợp với nh ng quy định của pháp luật. Tòa án cấp s th m đã áp dụng đ ng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa ph c th m ông H1 cũng không đ a ra đ ợc các chứng cứ và lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Vì vậy yêu cầu kháng cáo của ông H1 không đ ợc chấp nhận cần gi nguyên quyết định của ản án s th m.
Án phí dân s ph c th m: Do ông Vũ Ngọc H1 là ng ời cao tuổi, T5 quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy an Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì ông H1 không phải nộp án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân s ph c th m cho ông H1.
Nh ng quyết định khác của bản án s th m không ị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân s năm 2015. Gi nguyên ản án s th m.
Căn cứ các Điều 26, Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân s năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các Điều 46, 47, 105, 107, 136 Luật đất đai 2003; các Điều 119, 201, 202, 203 Bộ luật dân s năm 1995; Điều 14 Nghị định 79/2001/NĐ-CP ngày 01-11-2001; các Điều 166, 674, 675, 676 Bộ luật dân s 2005.
1. Công nhận toàn ộ diện tích 655m2 đất ao tại thửa 626 tờ ản đồ số 06, tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định đã đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên ông Vũ Đình L (Vũ Ngọc L) có nguồn gốc của cụ Vũ Bá C và cụ Vũ Thị T5 là tài sản của ông Vũ Ngọc T7 (Vũ Hải T6) đ ợc quyền sử dụng T5 văn bản ngày 07-7-2004 của ông Vũ Ngọc L.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Trần Thị D đối với ông Vũ Ngọc H1 về việc đòi quyền sử dụng diện tích 655m2 đất ao tại thửa 626, tờ ản đồ số 06 tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định.
3. Bà Trần Thị D đ ợc quyền sử dụng diện tích 655m2 đất ao tại thửa 626, tờ ản đồ số 06 tại Xóm B, xã Y, huyện Y, t nh Nam Định có tứ cận nh sau: Phía Đông giáp ao ông L (thửa 627) dài 10 m; Phía Tây giáp đ ờng 14m + 1,5m (gấp kh c) + giáp đất nhà ông Cảnh 9m; Phía Nam giáp đ ờng dài 27m; Phía Bắc giáp ao nhà ông San (Xem) dài 30,5m (thửa 625).
4. Án phí dân s s th m và các chi phí tố tụng khác: Miễn án phí dân s s th m cho ông ông Vũ Ngọc H1. Hoàn trả lại cho à Trần Thị D số tiền đã nộp tạm ứng án phí 1.112.500 đồng T5 iên lai thu tiền số AA/2015/0000999 ngày 18-12-2018 tại Chi cục thi hành án dân s huyện Ý Yên, t nh Nam Định.
- Lệ phí th m định, định định giá tài sản à Trần Thị D t nguyện nộp toàn ộ các chi phí th m định, định giá. Bà D đã nộp đủ, không yêu cầu ông H1 phải hoàn trả lại cho à số tiền này.
5. Án phí dân s ph c th m: Miễn án phí dân s ph c th m cho ông Vũ Ngọc H1.
Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành T5 quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án T5 quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện T5 quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s .
Bản án ph c th m có hiệu l c thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đ ng s ; - VKSND t nh Nam Định; - TAND huyện Ý Yên; - VKSND huyện Ý Yên; - Chi cục THADS huyện Ý Yên; - Hồ s vụ án; - L u VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng |