vanban.org

Bản án 01/2019/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu tranh chấp Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV đối với anh Nguyễn Tiến Kh.

2/ Buộc anh Nguyễn Tiến Kh phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV số tiền gốc và lãi (tính đến ngày 16/10/2018) là 619.103.554 (sáu trăm mười chín triệu một trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi bốn) đồng. 3/ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV có nghĩa vụ trả lại toàn bộ giấy tờ củ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu tranh chấp Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV đối với anh Nguyễn Tiến Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/KDTM - ST.
Ngày 08 - 5 - 2019
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lý Ông Cao Hoài Hiêm Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên. Trong ngày 08 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2019/TLST-KDTM ngày 14 tháng 01 năm 2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST - KDTM ngày 04 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Chí D – chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị đại diện theo pháp luật; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Thành Tr – chức vụ: Phó Giám đốc (theo văn bản uỷ quyền ngày 02/3/2018); ông Đỗ Thành Tr uỷ quyền lại cho cho anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983, chị Nguyễn Thị Đại Th, sinh năm 1990 – cán bộ xử lý nợ (theo văn bản uỷ quyền số 13607 ngày 06/5/2019) – chị Th có mặt, anh Đ có đơn đề nghị được vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến Kh, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp SS, xã AT, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2018 và các lời khai tại Tòa án và tại phiên toà (đại diện nguyên đơn) chị Nguyễn Thị Đại Th trình bày:

Ngày 24/3/2015, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV (gọi tắt là Ngân hàng) ký hợp đồng tín dụng số HCM/15/0687/HĐTD với anh Nguyễn Tiến Kh. Nội dung: Ngân hàng cho anh Nguyễn Tiến Kh vay số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, thỏa thuận lãi suất 6,99%/năm, định kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/ lần, mục đích vay mua xe ô tô đầu kéo để kinh doanh, thời hạn vay là 72 tháng, hình thức trả hàng tháng, mỗi tháng trả tiền gốc 13.889.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng và lãi suất theo thoả thuận. Biện pháp bảo đảm: Anh Kh có thế chấp 02 xe ô tô đầu kéo biển số 70C-057.71 và biển số 70C- 056.60 mang tên Nguyễn Tiến Kh tại Hợp đồng thế chấp số HCM/15/0687/HDTCTS ngày 24/3/2015 có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm. Quá trình thực hiện hợp đồng anh Kh đã trả được số tiền gốc là 444.448.000 đồng và tiền lãi suất là 217.187.702 đồng. Từ ngày 19/12/2017 anh Kh không trả tiền gốc, lãi. Tính đến ngày 16/10/2018 anh Kh còn nợ Ngân hàng số tiền gốc 555.552.000 đồng nợ tiền lãi 63.551.554 đồng. Do anh Kh vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Kh phải trả tiền gốc và tiền lãi tổng số tiền 619.103.554 đồng tính đến ngày 16/10/2018 và yêu cầu được ưu tiên thanh toán khi phát mãi tài sản thế chấp.

Tại phiên toà, chị Th giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu.

Đối với (bị đơn) anh Nguyễn Tiến Kh: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án về việc Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với anh nhưng anh không đến tòa, không cung cấp lời khai, không tham gia các phiên hòa giải.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng:

- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội qui phiên tòa. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình vắng mặt các giai đoạn tố tụng nên Toà án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của nguyên đơn; buộc anh Nguyễn Tiến Kh phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV số tiền gốc là 555.552.000 đồng và lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số HCM/15/0687/HĐTD ngày 14/3/2015. Đồng thời, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV phải trả tài sản đã nhận thế chấp cho anh Kh theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV khởi kiện anh Nguyễn Tiến Kh tranh chấp hợp đồng cấp tín dụng. Toà án thụ lý giải quyết theo khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đối với (bị đơn) anh Nguyễn Tiến Kh vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Ngày 24/3/2015, anh Nguyễn Tiến Kh vay Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, thỏa thuận lãi suất 6,99%/năm, định kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/ lần, mục đích là để mua xe ô tô đầu kéo, mục đích vay để kinh doanh, thời hạn vay là 72 tháng, hình thức trả hàng tháng, mỗi tháng trả gốc 13.889.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng và lãi suất theo thoả thuận. Quá trình thực hiện hợp đồng anh Kh đã trả được số tiền gốc là 444.448.000 đồng và tiền lãi suất là 217.187.702 đồng. Từ ngày 19/12/2017 anh Kh không trả tiền gốc, lãi. Tính đến ngày 16/10/2018 anh Kh còn nợ Ngân hàng số tiền vốn 555.552.000 đồng nợ tiền lãi 63.551.554 đồng. Do anh Kh vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Kh phải trả toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi suất số tiền 619.103.554 đồng tính đến ngày 16/10/2018 là có căn cứ, phù hợp tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Biện pháp bảo đảm: Anh Nguyễn Tiến Kh đã thế chấp xe ô tô đầu kéo biển số 70C- 057.71 và xe ô tô biển số 70C- 056.60 mang tên Nguyễn Tiến Kh tại hợp đồng thế chấp số HCM/15/0687/HDTCTS ngày 24/3/2015, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm. Do đó, nếu phải xử lý 02 chiếc xe này để thanh toán nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV được ưu tiên thanh toán trước theo Điều 325, 336, 338, 355 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng tại phiên toà; xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Anh Nguyễn Tiến Kh phải chịu án phí theo quy định tại tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội cụ thể số tiền phải thanh toán là 619.103.554 đồng, trong đó tính án phí (400.000.000 đồng x 5%) = 20.000.000 đồng; (219.103.554 đồng x 4%) = 8.764.142 đồng + 20.000.000 đồng = 28.764.142 đồng (viết tròn số 28.764.000 đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 471, 474, 318, 325, 342, 355 Bộ luật Dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu tranh chấp Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV đối với anh Nguyễn Tiến Kh.

2/ Buộc anh Nguyễn Tiến Kh phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV số tiền gốc và lãi (tính đến ngày 16/10/2018) là 619.103.554 (sáu trăm mười chín triệu một trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi bốn) đồng.

3/ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV có nghĩa vụ trả lại toàn bộ giấy tờ của 02 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CAMC như sau: Xe ô tô biển số 70C- 056.60, số khung CB15FB000057, số máy 21614L171515 và xe ô tô biển số 70C- 057.71, số khung CB11FB000055, số máy 21614L169927 (hiện Ngân hàng đang quản lý) ngay sau khi anh Kh đã thanh toán xong số tiền phải thanh toán. Nếu phải xử lý tài sản thế chấp là 02 xe ô tô đầu kéo nêu trên để thanh toán nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TVđược ưu tiên thanh toán trước.

4/ Án phí:

- Anh Nguyễn Tiến Kh phải chịu số tiền 28.764.000 (hai mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam TV số tiền 14.382.000 (mười bốn triệu ba trăm tám mươi hai nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 00016734 ngày 14/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng.

Kể từ ngày 17/10/2018, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số HCM/15/0687/HĐTD ngày 24/3/2015 trên số nợ gốc cho đến khi trả hết nợ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng anh Kh vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ