- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "bà Trần Thị T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K- do Ngân hàng Thương mại cổ phần K - Chi nhánh An Giang đại diện nhận…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng Thương mại cổ phần K
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/KDTM-ST Ngày: 29-3-2019 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Năng
Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huy n Châu Thành.
- i di n Vi n ki m sát nh n d n huy n Ch u Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huy n Châu Thành t ử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2018/TLST- KDTM ngày 19 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số: 26/2019/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 2 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K
Địa chỉ: 40 – 42 – 44 Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang
Đại di n theo pháp luật: Bà Trần Tuấn Anh. Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại di n theo ủy quyền: Ông Lê Hữu Đức. Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh An Giang. Theo giấy ủy quyền số 1203/QĐ-NHKL ngày 24/4/2018.
Ông Lê Hữu Đức ủy quyền cho ông Phạm Quốc Độ theo văn bản ủy quyền số 44/UQ-CNAG ngày 30/11/2018 (có mặt)
Địa chỉ: 21 – 22A2, Lý Thái T , phường M, Thành phố L, An Giang
Bị đơn: Bà Trần Thị T , sinh năm: 1977
Nơi cư trú: Ấp H, thị trấn A, huy n C, tỉnh An Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 30/11/2018 và lời khai tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn ông Phạm Quốc Đ trình bày: Bà Trần Thị T có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần K (gọi tắt là TMCP K) tổng số tiền 280.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 248/2016/HĐTD/1200-2564 ngày 11/04/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 248/2016/HĐTD/1200-2564.1 ngày 11/10/2016. Mục đích vay là mua e Ô tô. Thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay là 9%/năm và 11,61%/năm, được điều chỉnh 03 tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết ki m kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần K tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng (+) biên độ 4,23%/năm. Lãi suất ngay sau khi điều chỉnh không được thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu hi n hành tại đơn vị (cùng loại hình và phương thức cho vay). Mức phạt chậm trả lãi: 0,05%/ngày. Hình thức thanh toán trả lãi hàng tháng, trả gốc hàng tháng (7.800.000 đồng/tháng). Trong quá trình vay vốn bà Trần Thị T chỉ thanh toán nợ với vống + lãi cho Ngân hàng đến ngày 13/06/2018 với tổng số tiền 251.158.407đ, gồm tiền lãi là 48.358.407đ, gốc là 202.800.000đ. Khi đến hạn thanh toán nợ, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở và bà T cũng đã nhiều lần cam kết nhưng không thực hi n đúng cam kết và thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Khi vay bà T có thế chấp cho Ngân hàng tại hợp đồng thế chấp số 248/2016/HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016 với tài sản bảo đảm là e ôtô con, màu: Ghi Bạc, nhãn hi u TOYOTA, số loại INNOVA, số khung: 43G479211593, số máy: 1TR6353905, biển kiểm soát: 67A-024.37 theo Giấy chứng nhận đăng ký Ô tô số 008546 do công an tỉnh An Giang cấp ngày 07/4/2016. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký tại trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP.Hồ Chí Minh ngày 11 tháng 04 năm 2016.
Ngân hàng Thương mại cổ phần K yêu cầu bà Trần Thị T phải trả cho ngân hàng tính đến ngày 29/3/2019 với tổng số tiền 86.062.561 đồng (Tám mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm sáu mươi mốt đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 30/3/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ. Ngân hàng rút lại yêu cầu tính phạt lãi.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị, phương ti n vận tải số 248/2016/HĐTD –MMTB/1200-2564 ngày 11/04/2016 được ký kết giữa người đại di n Ngân hàng với bà Trần Thị T để đảm bảo cho vi c thi hành án.
Đối với bị đơn Trần Thị T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp l thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về vi c giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về vi c thu thập được tài li u, chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra vi c giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà T v n vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do. Tòa án tiến hành ác minh hộ khẩu đối với Trần Thị T v n còn hộ khẩu tại ấp Hòa L, TT A. Huy n C, An Giang. Do đó Tòa án tiến hành t ử vắng mặt bà Trần Thị T theo quy định pháp luật.
Đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân huy n Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng t ử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hi n đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả vi c hỏi tại phiên tòa đại di n Vi n kiểm sát phát biểu ý kiến. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huy n Châu Thành tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra t ử và quyết định hoãn phiên toà hợp l đến lần thứ hai nhưng bà T v n vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng t ử v n tiến hành t ử vắng mặt bà T theo quy định pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Về số tiền phạt lãi: Tại đơn khởi ki n ngày 30/11/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần K khởi ki n yêu cầu chị Trần Thị T phải trả lại số tiền vay còn thiếu trong hợp đồng tín dụng bao gồm tiền vốn vay, tiền lãi trong hạn, phạt lãi, quá hạn từ thời điểm chị Tuyền chậm thanh toán cho ngân hàng. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay đại di n ủy quyền của ngân hàng rút lại yêu cầu không yêu cầu tính phạt lãi. X t thấy, đối với vi c rút lại yêu cầu tính phạt lãi của nguyên đơn là không vượt quá yêu cầu khởi ki n ban đầu. Nghĩ nên chấp nhận là phù hợp.
Về nội dung hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh An Giang với bà Trần Thị T thực tế đã có phát sinh. Sự vi c được chứng minh qua hợp đồng tín dụng số 248/2016/HĐTD/1200-2564 ngày 11/04/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 248/2016/ HĐTD/1200-2564.1 ngày 11/10/2016, Hợp đồng thế chấp số 248/2016/HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016. X t về hình thức và nội dung đều không trái đạo đức và pháp luật nên điều chỉnh khi phát sinh tranh chấp.
Quá trình thực hi n hợp đồng thì bà T chỉ đóng vốn, lãi cho ngân hàng đến ngày 13/06/2018 với tổng số tiền 251.158.407đ, gồm tiền lãi là 48.358.407đ, gốc là 202.800.000đ thì ngưng không trả vốn và lãi cho Ngân hàng như đã cam kết, vi c làm này đã vi phạm hợp đồng tín dụng, Ngân hàng cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bà T v n không thanh toán. Tại phiên tòa hôm nay đại di n ngân hàng yêu cầu bà T có trách nhi m trả số tiền vốn và lãi đến ngày 29/3/2019 là 86.062.561 đồng, trong đó nợ gốc là 77.200.000 và lãi phát sinh đến ngày 29/3/2019 là 8.862.561 đồng và tiếp tục trả phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng. X t về mối quan h tranh chấp trên thì phía bị đơn là người có lỗi, không thực hi n đúng nghĩa vụ của mình là phải nộp lãi và trả vốn đúng theo hợp đồng, vi c vi phạm này của bị đơn đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phía nguyên đơn. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ một lần số tiền vốn lãi là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng t ử chấp nhận. Như vậy buộc bà Trần Thị T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K– chi nhánh An Giang đại di n nhận số tiền 86.062.561 và phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc là 77.200.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 248/2016/HĐTD/1200-2564 ngày 11/04/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 248/2016/HĐTD/1200-2564.1 ngày 11/10/2016, kể từ ngày 30/3/2019 cho đến khi thi hành án ong.
Đối với hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp số 248/2016 /HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016 thì khi giao kết hợp đồng bà Trần Thị T đều hoàn toàn tự nguy n, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức ã hội, có chữ ký của bà T , có đơn yêu cầu đăng ký thế chấp và đều có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy khi buộc bà T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền 86.062.561 đồng thì cần phải tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 248/2016/HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016 để đảm bảo cho vi c thi hành án.
Sau khi án có hi u lực pháp luật nếu bà T tự nguy n thi hành án, không phải phát mãi tài sản thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải trả lại tất cả các loại giấy tờ đã thế chấp cho bà T . Nếu bà T không tự nguy n thi hành án thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu chi cục thi hành án phát mãi các tài sản thế chấp số 248/2016/HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016 để đảm bảo cho vi c thi hành án.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
- Yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng Thương mại cổ phần K-Chi nhánh An Giang được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Bà Trần Thị T phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, 228, 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463,465,466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng Thương mại cổ phần K
2.Buộc bà Trần Thị T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K do Ngân hàng Thương mại cổ phần K- Chi nhánh An Giang đại di n nhận số tiền 86.062.561 đồng (Tám mươi sáu triệu không trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm sáu mươi mốt đồng) và phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc là 77.200.000đồng theo hợp đồng tín dụng số 248/2016/HĐTD/1200-2564 ngày 11/04/2016 và Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 248/2016/HĐTD/1200-2564.1 ngày 11/10/2016, kể từ ngày 30/3/2019 kể từ ngày 30/3/2019 cho đến khi thi hành án ong.
3.Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 248/2016/HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016 của Ngân hàng TMCP K -Chi nhánh An Giang với bà Trần Thị T để đảm bảo cho vi c thi hành án gồm tài sản sau: là e ôtô con, màu: Ghi Bạc, nhãn hi u TOYOTA, số loại INNOVA, số khung: 43G479211593, số máy: 1TR6353905, biển kiểm soát: 67A-024.37 theo Giấy chứng nhận đăng ký Ô tô số 008546 do công an tỉnh An Giang cấp ngày 07/4/2016. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký tại trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP.Hồ Chí Minh ngày 11 tháng 04 năm 2016.
4. Sau khi án có hi u lực pháp luật nếu bà Tuyền tự nguy n thi hành án, không phải phát mãi tài sản thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K phải trả lại tất cả các loại giấy tờ đã thế chấp cho bà T. Nếu bà T không tự nguy n thi hành án thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K có quyền yêu cầu chi cục thi hành án phát mãi các tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 248/2016/HĐTC-MMTB/1200-2564 ngày 11/4/2016để thi hành án.
5. Đình chỉ yêu cầu khởi ki n của Ngân hàng đối với số tiền phạt lãi là 471.994 đồng.
6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần K do Ngân hàng Thương mại cổ phần K-Chi nhánh An Giang được nhận lại 2.053.000 đồng (Hai tri u không trăm năm mươi ba ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014007 ngày 19 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huy n Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bà Trần Thị T phải chịu 4.303.128đ (Bốn tri u ba trăm lẽ ba ngàn một trăm hai mươi tám đồng) án phí knh doanh thương mại sơ thẩm.
7.Về kháng cáo: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K do Ngân hàng Thương mại cổ phần K- Chi nhánh An Giang được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/3/2019). Bà Trần Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp l .
8.Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng (để thi hành); - TAND tỉnh; -VKSND huy n Châu Thành; -Chi cục THA.DS huy n; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI Đ NG X T X S TH M TH M PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |