vanban.org

Bản án 01/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q và Hà Nhật D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HSST
Ngày: 07/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lợi

2. Bà Hoàng Thị Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2018/TLST-HS ngày 07/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn Q - Sinh năm 1994.

Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn Ph - SN 1957; và bà: Đinh Thị B - SN 1960; Chưa vợ;Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giam ngày 29/9/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Hà Nhật D - SN 1995

Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn Nh - SN 1967; và bà: Đinh Thị H - SN 1967; Chưa vợ; Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giam ngày 25/9/2018 tại nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nh sau:

Khoảng 11h ngày 17/9/2018, Phạm Văn Q đang đi bộ trên đường liên thôn thuộc thôn H, xã Quảng Nh, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa thì gặp Hà Nhật D (bạn nghiện). Q nói với D “Còn tiền không góp lại tôi với ông đi mua Hêrôin về sử dụng”, D đồng ý và nói: “Tôi không còn tiền, ông có thì cho tôi vay, hôm sau tôi trả”. Do có sẵn tiền trong người nên Q đồng ý cho D vay và cả hai thống nhất mỗi người góp 300.000đ, tổng được 600.000đ mua Hêrôin 500.000đ còn 100.000đ đổ xăng xe mô tô để đi mua ma túy. Thống nhất xong, Q điều khiển xe mô tô BKS 36B5-89394 của D đi lên khu vực BigC thuộc phường Đ, thành phố T, Thanh Hóa tìm và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Hêrôin với giá 500.000đ. Sau khi mua được Hêrôin, Q cất giấu trong cốp nắp bình xăng xe mô tô rồi quay về. Khi đi đến địa phận thôn Tr, xã Q, huyện Q trên QL1A thì bị tổ công tác Trạm CSGT hyện Q tỉnh Thanh Hóa thuộc Phòng CSGT tỉnh Thanh Hóa yêu cầu dừng xe kiểm tra giấy tờ. khi tổ công tác đang kiểm tra và mở nắp bình xăng xe thì Q giật lấy gói Hêrôin đang cất giấu định bỏ chạy thì bị tổ công tác khống chế. Tại chỗ, thu giữ trên tay Q 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ngang kích thước (1x2)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn; Q và D khai là Hêrôin vừa mua được và 01 xe mô tô BKS 36B5-89394. Sau đó tổ công tác đã phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương và Chính quyền địa phương tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng đưa các đối tượng về Công an huyện Quảng Xường làm việc.

Tại bản kết luận giám định số 2009/MT-PC09 ngày 21/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì gửi giám định là ma túy có trọng lượng 0,413gam, loại Hêrôin.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn Q và Hà Nhật D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác của vụ án.

Vật chứng vụ án là 0,413 gam Hêrôin là mặt hàng Nhà nước cấm sử dụng, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B5-89394 (kèm theo đăng ký xe) là xe của Hà Nhật D, D và Q dùng làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q và D tại khu vực BigC thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, nhưng do Q và D không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 05/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Văn Q và Hà Nhật D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 249 BLHS.

T¹i phiªn tßa, đại diện VKSND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo trong cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ: khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; §iÒu 38 BLHS đối với Q. Đề nghị xử phạt: Phạm Văn Q từ 20 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam.

Căn cứ khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; Điều 17; Điều 58; §iÒu 38 BLHS đối với D. Đề nghị xử phạt: Hà Nhật D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô BKS 36B5-89394 (kèm theo 01 đăng ký xe mô tô mang tên Hà Nhật D),

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền; về trình tự, thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

T¹i phiªn tßa các bÞ c¸o thõa nhËn: Khoảng 13h ngày 17/9/2018, tổ tuần tra kiểm soát Trạm Cảnh sát giao thông thuộc Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh Thanh Hóa tại địa chỉ thôn Tr, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra phát hiện Phạm Văn Q, Hà Nhật D đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Hêrôin. Qua giám định là ma túy, có khối lượng 0,413gam, loại Hêrôin.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biªn b¶n sự việc, kÕt luËn gi¸m ®Þnh, vËt chøng vµ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Víi c¸c tµi liÖu vµ chøng cø đã nªu trªn, Hội đồng xét xử có đủ c¨n cø ®Ó kÕt luËn các bị cáo Phạm Văn Q, Hà Nhật D ph¹m tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, téi danh vµ h×nh ph¹t ® îc quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 249 BLHS.

Hµnh vi tàng trữ trái phép chất ma túy cña các bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tóy, x©m ph¹m trËt tù an toµn x· héi. Các bÞ c¸o tuổi đời còn trẻ kh«ng tu chí lao ®éng, rÌn luyÖn b¶n th©n, đã lao vào con đường tệ nạn xã hội như nghiện hút ma túy. Các bÞ c¸o tàng trữ ma tóy nh»m môc ®Ých để sử dụng.

Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này tuy có hai bị cáo tham gia thùc hiÖn ph¹m téi nhưng chØ mang tÝnh chÊt ®ång ph¹m gi¶n ®¬n.

§èi víi bÞ c¸o Q lµ người trực tiếp rủ rê bị cáo D đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo là người cho D vay tiền và là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở D đi mua ma túy nên bị cáo phải giữ vai trò chính trong vụ án là phù hợp.

Đối với bị cáo D khi được bị cáo Q rủ đi mua ma túy về sử dụng, D đã đồng ý, đồng thời còn vay tiền của Q và đã đưa xe của mình cho Q điều khiển, rồi cùng Q đi mua ma túy nên D giữ vai trò thứ hai sau Q là phù hợp.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nªn ¸p dông ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51 BLHS cho các bÞ c¸o ® îc h ëng t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù. Ngoài ra bị cáo D đã có thời gian công tác trong quân đội, gia đình có công với cách mạng nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D là phù hợp.

XÐt thÊy cÇn thiÕt b¾t các bÞ c¸o ph¶i c¸ch ly ra khái ®êi sèng x· héi mét thêi gian míi ®ñ ®Ó gi¸o dôc các bÞ c¸o sím trë thµnh c«ng d©n tèt cã Ých cho gia ®×nh vµ x· héi.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì đựng ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô BKS 36B5-89394(kèm theo đăng ký xe mang tên Hà Nhật D) là xe của D, các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Án phÝ: Buéc các bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy ®Þnh tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh

Tuyên bố: Các bÞ c¸o Phạm Văn Q, Hà Nhật D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với Quân.

Xử phạt: Phạm Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/9/2018.

- Căn cứ khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS đối với D.

Xử phạt: Hà Nhật D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/9/2018.

Xö lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Airblade BKS 36B5-89394 (kèm theo đăng ký xe mô tô mang tên Hà Nhật D), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Án phí: ¸p dông kho¶n 2 §iÒu 136 BLTTHS. §iÒu 6; ®iÓm a kho¶n 1 §iÒu 23 NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14.

Buộc các bị cáo Q, D mỗi bị cáo phải chÞu 200.000đ ¸n phí HSST.

Các bị cáo có quyền kháng cáo b¶n ¸n trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ