| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HS-ST Ngày:16-01-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giáp.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mạnh;
2. Ông Lê Đức Hiếu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2018/TLST-HS ngày 21-12-2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/HSST-QĐ ngày 05-01-2019; đối với bị cáo:
Phạm Thành T, sinh năm: 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 314/58A đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay: Khu dân cư số A huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa: 08/12; con ông Phạm Thiên Lưu và bà Phạm Thị Lan (Đã chết); có vợ Nguyễn Thị Kim Thoa, sinh năm: 1989, có 01 con sinh năm 2007, bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh, chị em.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 30-11-2018, bị Công an huyện Côn Đảo xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a, khoản 1, Điều 21, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP
Bị bắt ngày 11-10-2018 – Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Tấn P, sinh năm: 1983 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Nguyễn Út, xã A, Thị xã B, tỉnh Sóc Trăng.
2. Hứa Thị Nữ L, sinh năm: 1970 (Có mặt);
Địa chỉ: Khu dân cư số A, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người làm chứng: Đinh Ngọc L, sinh năm: 1986 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Khu dân cư số B, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Phạm Thành T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố về hành vi phạm tội như sau:
- 1 -
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11-10-2018, tại ngã tư đường Phạm Văn Đồng – Ngô Gia Tự thuộc Khu dân cư số 5 huyện Côn Đảo, Đồn Biên Phòng Côn Đảo bắt quả tang Phạm Thành T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
+ 01 (một) gói ni lông màu trắng, được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt, thu giữ trên người của Phạm Thành T;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia X1, màu đỏ đen, số Imei: 359032043106228 và 359032043106236 gắn sim điện thoại số: 0356927109.
+ 01 (một) xe máy hiệu Wave RS màu tím, số khung: 09047Y343614, số máy: HC09E5444151, biển số: 83H8- 6317.
Theo Kết luận giám định số: 292/GĐMT-PC09 (Đ4) ngày 15-10-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 gói nylon, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Đồn Biên Phòng Côn Đảo thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và hình dấu của Khu dân cư số 5 - UBND huyện Côn Đảo, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Hoàng Văn Nghĩa, Đỗ Văn Hải, Hoàng Văn Hiếu, Phạm Thành T, Đậu Ngọc Anh Hoàng, gửi đến giám định có khối lượng 0,6784 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, Số thứ tự 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ (BL: 28).
Tại Đồn Biên Phòng Côn Đảo và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo, Phạm Thành T khai nhận như sau: Do là một người nghiện ma túy, loại ma túy T thường sử dụng là ma túy tổng hợp (Hàng đá) nên khoảng trưa ngày 11-10-2018, T đang điều khiển xe mô tô trên đường đi về phòng trọ tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo, khi đi đến đoạn đường gần Khách sạn Saigon tour, T gặp đối tượng tên Bé (không rõ nhân thân, lai lịch) nên T vòng xe lại và hỏi Bé “mày có biết chỗ nào lấy đồ không lấy giùm” (lấy đồ tức là mua ma túy đá). T đưa cho Bé 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) và chạy xe ra bờ biển ngồi chờ. Khoảng 30 phút sau, T chạy xe lại chỗ cũ để gặp Bé để lấy ma túy và được Bé chỉ địa điểm cất dấu ma túy dưới gốc cây, T đi đến gốc cây lấy được một gói ma túy và chạy về phòng trọ cắt ra một ít để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, T lấy số ma túy còn lại cho vào gói thuốc lá hiệu Jet và chạy xe đi làm. Khi T chạy xe đến khu vực ngã tư đường Phạm Văn Đồng – Ngô Gia Tự, thuộc Khu dân cư số 5, huyện Côn Đảo thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Côn Đảo tuần tra bắt giữ cùng tang vật.
Sau khi bắt quả tang đối với Phạm Thành T, Đồn Biên Phòng Côn Đảo đã thi hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Phạm Thành T tại Khu dân cư số 7, huyện Côn Đảo và thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) chai nhựa màu xanh, nắp màu trắng, có gắn đoạn ống nhựa màu xanh, bên ngoài ống nhựa bọc giấy bạc; 01 (một) chai nhựa trong suốt, bên ngoài dán nhãn “ Nước uống đóng chai Number”, nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh, một đầu hình tròn dạng phễu, một đầu có gắn 01 ống nhựa màu tím, 01 ống nhựa màu trắng; 01 (một) bình ga hiệu BLUESKY; 01 (một) bật lửa ga hiệu “Hoa Việt” màu tím, hình dẹp, đã hư hỏng; 01 (một) bật lửa ga hiệu “Hoa Việt” hình tròn đã hư hỏng; 02 (hai) đoạn ống hút màu tím.
- 2 -
Quá trình điều tra, Phạm Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKSND -CĐ ngày 20-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo đã truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm đúng như cáo trạng truy tố. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tuyên về xử lý vật chứng.
Bị cáo T không tranh luận gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng Côn Đảo thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan điều tra huyện Côn Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11-10-2018, tại ngã tư đường Phạm Văn Đồng – Ngô Gia Tự thuộc Khu dân cư số 5, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồn Biên Phòng Côn Đảo- Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã bắt quả tang bị cáo Phạm Thành T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Khối lượng chất ma túy Methamphetamine thu giữ là: 0,6784 gam (Theo kết luận giám định) mà bị cáo T khai nhận số ma túy này T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, Số thứ tự 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết quả giám định…Từ đó, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Côn Đảo truy tố là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.
- 3 -
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện độc hại được Nhà nước quy định rất chặt chẽ, là hiểm họa cho xã hội, trực tiếp gây ra các tệ nạn khác, dẫn đến làm hủy hoại cả một thế hệ thanh thiếu niên hiện nay. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, có trình độ, đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy, bị cáo cũng là một người nghiện ma túy nên hiểu rõ tác hại của việc sửa dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình, xã hội khi tái hòa nhập cộng đồng, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã có tiền sự ngày 30-11-2018, bị Công an huyện Côn Đảo xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a, khoản 1, Điều 21, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP. Ngoài tình tiết định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Xét bị cáo không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
. Đối với người tên Bé đã nhận 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) và mua ma túy giúp Thảo. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định được họ tên, địa chỉ của Bé nên không có đủ căn cứ xử lý đối với Bé. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm đối tượng số 13/TB-ĐT ngày 15-11-2018 đối với Bé, khi nào tìm được sẽ làm rõ, xử lý sau.
. Đối với Đinh Ngọc L, là người mà Phạm Thành T khai đã bán trái phép chất ma túy cho T 02 lần. Tuy nhiên, quá trình điều tra L không thừa nhận. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý đối với Đinh Ngọc L sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Số vật chứng trong vụ án hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo cần được xử lý như sau:
10.1. Đối với 01 (một) xe máy biển số: 83H8-6317. Quá trình điều tra xác định do Lê Tấn Phát đứng tên trong giấy đăng ký xe. Tuy nhiên, qua xác minh tại Công an xã Hòa Đông, thì ông Phát đã đi khỏi địa phương vào cuối năm 2017 nên không triệu tập làm việc được. Bà Hứa Thị Nữ Lành khai nhận: Chiếc xe máy biển số: 83H8-6317 là do vợ chồng bà Lành mua lại của người tên Phát cách đây khoảng 10 năm với giá 7.000.000đ để làm phương tiện đi lại. Sau đó, bà Lành cho Phạm Thành Thảo mượn xe máy biển số: 83H8-6317 để làm phương tiện đi lại. Ngày 11-10-2018, Phạm Thành Thảo sử dụng chiếc xe máy biển số: 83H8-6317 để đi và bị bắt giữ khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người, bà Lành không biết Thảo sử dụng xe máy vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy: Chiếc xe máy biển số: 83H8-6317 do bà Hứa Thị Nữ Lành mua lại của người tên Lê Tấn Phát cách đây khoảng 10 năm với giá 7.000.000đ để làm phương tiện đi lại và quản lý hợp pháp, là người sử dụng cuối cùng, anh Lê Tấn Phát là chủ sở hữu đã đi khỏi địa phương vào cuối năm 2017 nên không triệu tập làm việc được. Vì vậy, nên giao
- 4 -
chiếc xe nêu trên cho bà Hứa Thị Nữ L là có cơ sơ nên được chấp nhận và cấm bà Lành trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật bà Hứa Thị L không được chuyển dịch (chuyển nhượng), tặng cho người khác. Nếu có phát sinh tranh chấp chiếc xe máy nêu trên trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày án có hiệu lực thi hành thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác để yêu cầu Tòa án giải quyết. Hết thời hạn 12 tháng nếu không có phát sinh tranh chấp chiếc xe máy nêu trên bà L đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đổi tên chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
10.2. Ngoài vật chứng trên; p dụng Điều 47, 48 của Bộ Luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ, tịch thu sung công quỹ nhà nước toàn bộ số vật chứng trong vụ án hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 05/BB/19; ngày 21-12-2018.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
p dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thành T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11-10-2018.
Về xử lý vật chứng: p dụng Điều 47, 48 của Bộ Luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
2.1. Trả lại cho bà Hứa Thị Nữ L 01 (một) xe máy hiệu Wave RS màu tím, số khung: 09047Y343614, số máy: HC09E5444151, biển số: 83H8- 6317 (Xe không có kính chiếu hậu, không cà vẹt, không chìa khóa, không bửng, yên xe bị rách; đèn phía sau xe bị nát, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của xe);
2.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu Nokia X1 màu đỏ đen, số Imei: 359032043106228 và 359032043106236 gắn sim điện thoại số: 0356927109 (Không kiểm tra được hoạt động của máy);
2.3. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì gửi giám định (đã được niêm phong), vụ số 244/1, bên trong có chứa 0,5807 gam mẫu còn lại (là chất ma túy) sau giám định kèm theo Kết luận giám định số: 292/GĐMT-PC09 (Đ4) ngày 15-10-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
2.4. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chai nhựa màu xanh, nắp màu trắng, có gắn đoạn ống nhựa màu xanh, bên ngoài ống nhựa bọc giấy bạc (ống nhựa bọc giấy bạc đã lọt vào bên trong chai nhựa và bị rách giấy bạc);
2.5. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chai nhựa trong suốt, bên ngoài dán nhãn “Nước uống đóng chai Number”, nắp chai màu trắng, trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh, một đầu hình tròn dạng phễu, một đầu có gắn 01 ống nhựa màu tím, 01 ống nhựa màu trắng;
2.6. Tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 (một) bình ga hiệu BLUESKY; 01 (một) bật lửa ga hiệu “Hoa Việt” màu tím, hình dẹp, đã hư hỏng; 01 (một) bật lửa ga hiệu “Hoa Việt” hình tròn đã hư hỏng và 02 (hai) đoạn ống hút màu tím. Toàn bộ số vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo; theo
- 5 -
biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 05/BB/19; ngày 21-12-2018 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo và Công an huyện Côn Đảo.
. Về án phí: Bị cáo Phạm Thành T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16-01-2019) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, thời hạn được tính từ ngày niêm yết bản án hoặc nhận được bản án.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BRVT (PGĐKT); - VKSND tỉnh BRVT; - Sở Tư pháp tỉnh BRVT, - Nhà tạm giữ Công an tỉnh BRVT; (01 bản); - VKSND huyện Côn Đảo; - Công an huyện Côn Đảo (01 bản); - Nhà tạm giữ Công an huyện Côn Đảo (01 bản); - Chi cục THADS huyện Côn Đảo; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. - 6 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |