vanban.org

Bản án 01/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 22/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tình từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (09/11/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HS-ST
Ngày 22/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Long Thị Tuyết Mai.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ma Quốc Thể.

2. Ông Nguyễn Ngọc Xuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 22/01/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2019/TLST-HS, ngày 08/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST-HS, ngày 09/01/2019 đối với bị cáo:

Hà Văn T, sinh ngày 02/02/1977 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư tr : Tổ dân phố T1, thị trấn D, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Hà Văn C, sinh năm 1927 (đã chết) và bà Phạm Thị S, sinh năm 1937; c v Vũ Thị H, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 1999; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại bản án số 18/HSPT ngày 29/11/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt Hà Văn T 09 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, Hà Văn T phải chịu 50.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, 141.200đồng án phí dân sự c giá ngạch và bồi thường dân sự cho bị hại số tiền 2.824.900đồng.

Ngày 07/12/2009, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương ra Quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự c giá ngạch tổng là 191.200đồng. Ngày 21/12/2009, Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với khoản phải thi hành nêu trên của Hà Văn T. Ngày 24/3/2003, Hà Văn T chấp hành xong hình phạt tù. Đối với phần bồi thường dân sự, do bị hại Chương Văn T2 không c đơn yêu cầu thi hành án nên Hà Văn T không phải thi hành.

+ Tại bản án số 44/HSST ngày 31/8/2004 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Hà Văn T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phải bồi thường dân sự cho bị hại tổng số tiền 3.260.000đồng, phải nộp 50.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 163.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngày 17/6/2010, Hà Văn T đã chấp hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Về phần bồi thường dân sự, bị hại không c đơn yêu cầu nên Hà Văn T chưa thi hành.

+ Tại bản án số 58/HSST ngày 19/10/2004 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt Hà Văn T 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma t y” và 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma t y”. Hà Văn T phải chấp hành chung cho cả hai tội là 13 năm tù. Đồng thời, Hà Văn T phải chấp hành 18 tháng tù của bản án số 44/HSST ngày 31/8/2004 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương về tội “Trộm cắp tài sản”. Hà văn T phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 14 năm 01 tháng 23 ngày tù. Hà Văn T phải chịu 50.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, phạt tiền 5.000.000đồng, truy thu 275.000đồng.

Ngày 18/6/2013, Hà Văn T chấp hành xong khoản án phí hình sự, khoản tiền truy thu và 25.000đồng tiền phạt. Ngày 27/9/2013, Hà Văn T đư c miễn thi hành khoản tiền phạt còn lại là 4.975.000đồng. Ngày 08/10/2013, Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ra Quyết định đình chỉ thi hành án số 04/QĐ-CCTHA đối với khoản tiền phạt trên. Ngày 12/7/2015, Hà Văn T chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (c mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Tr giúp viên pháp lý của Trung tâm tr gi p pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang (c mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Hồi 09 giờ 20 phút ngày 09/11/2018, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm ma t y Công an huyện Sơn Dương phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hà Văn T, sinh ngày 02/02/1977, tr tại Tổ dân phố T1, thị trấn D, huyện S, tỉnh Tuyên Quang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma t y. Tang vật thu giữ gồm 01 g i nhỏ bằng giấy màu trắng c in chữ màu đen, bên trong c chứa chất bột v n cục màu trắng ngà (T khai là Hêrôin). Sau đ đư c niêm phong theo quy định.

Quá trình điều tra đã chứng minh: Hà Văn T là người nghiện ma t y từ năm 2001 đến nay, thường sử dụng Hêrôin bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể. Khoảng 07 giờ ngày 09/11/2018, T một mình đi bộ từ nhà ra khu vực cầu sắt Sơn Dương tìm mua Hêrôin để sử dụng thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi nhìn giống người nghiện ma t y T hỏi “C Hêrôin bán không? Bán cho 200.000đồng?” Người đàn ông đ trả lời “c ”, T đưa 200.000đồng, người đàn ông đ cầm tiền và đưa lại cho T 01 g i nhỏ đư c g i bằng giấy màu trắng c in chữ màu đen. Kiểm tra thấy đ ng là Hêrôin, T cầm g i nhỏ vừa mua đư c đi xuống gầm cầu sắt Sơn Dương lấy ra một ít pha với nước cất đã chuẩn bị sẵn một mình sử dụng bằng cách chích vào cơ thể, số còn lại T g i lại như cũ, cất vào t i áo ngực bên trái đang mặc trên người và đi vào Bệnh viện đa khoa huyện Sơn Dương thăm người ốm thì gặp Tổ công tác Công an huyện Sơn Dương phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 492/GĐKTHS ngày 12/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất bột v n cục màu trắng ngà thu giữ của Hà Văn T là Hêrôin, c khối lư ng 0,217gam.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS, ngày 08/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu và phù h p với các chứng cứ c trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Kết th c phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương luận tội và tranh luận, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, nên giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không c ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xử bị cáo mức án nhẹ nhất.

Người bào chữa cho bị cáo c quan điểm: Nhất trí với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo đư c hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về việc xem xét hành vi của Hà Văn T:

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn T thừa nhận bị cáo c hành vi tàng trữ 0,217 (Không phẩy hai một bảy gam) hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù h p với kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 09 giờ 20 ph t, ngày 09/11/2018 tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện Sơn Dương thuộc Tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Hà Văn T c hành vi tàng trữ trái phép 0,217 gam (Không phẩy hai một bảy gam) hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Hà Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đư c quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần ch ng nhân dân. Do vậy cần phải c mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo c bố đẻ là ông Hà Văn C đư c tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không c nghề nghiệp ổn định, không có tài sản c giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đ ng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật c liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đ ng người, đ ng tội, đ ng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là h p pháp. Vì vậy các chứng cứ c trong hồ sơ đều đư c thu thập theo trình tự tố tụng và h p pháp.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan Điều tra thu giữ 01 phong bì đã niêm phong c chữ ký của Hà Văn T, thành phần niêm phong và có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang ở các mép dán, bên trong c chứa ma túy (Hêrôin). Xét thấy đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và đư c quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma t y của Hà Văn T, tại quyết định số 381/QĐ-XPVPHC ngày 30/11/2018 Trưởng Công an huyện Sơn Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền; đối với người đàn ông bán ma t y tổng h p cho Hà Văn T do không xác định đư c họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không c căn cứ điều tra, xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tình từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (09/11/2018).

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong c chữ ký của Hà Văn T, thành phần niêm phong và có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang ở các mép dán, bên trong c chứa ma t y (Hêrôin).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2019 giữa Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo đư c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ma Quốc Thể - Nguyễn Ngọc Xuyến

Long Thị Tuyết Mai

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ